Thứ Hai, 30 tháng 11, 2009

14 - SÁU PHIÊN BẢN TRUYỆN KIỀU - Hội Bảo tồn Di sả n chữ Nôm

SÁU PHIÊN BẢN TRUYỆN KIỀU VÀ NHỮ NG VẤN ĐỀ PHÂN TÍCH NGUYÊN BẢN


John Balaban, Ngô Thanh Nhàn, Ngô Trung Vi ệ t,
Vũ Xuân L ươ ng, Lê Văn Cường, Lương Thị Hạnh,
Tô Trọ ng Đức, Ngô Thanh Giang
(H ộ i B ả o t ồ n Di s ả n ch ữ Nôm, M ỹ và Nhóm Nôm Na, Hà N ộ i )
 
Bài vi ế t này trình bày m ộ t s ố nét chính v ề vi ệ c xây d ự ng Kho v ă n b ả n Truy ệ n Ki ề u và
đư a ra m ộ t s ố tri ể n v ọ ng trong vi ệ c nghiên c ứ u v ă n b ả n mà H ộ i B ả o t ồ n Di s ả n ch ữ Nôm
Nhóm Nôm Na đ ã th ự c hi ệ n trong th ờ i gian qua. Công vi ệ c này nh ằ m m ụ c đ ích t ạ o h ạ
t ầ ng c ơ s ở cho vi ệ c ph ụ c d ự ng l ạ i nguyên tác Truy ệ n Ki ề u, b ả o t ồ n m ộ t di s ả n ch ữ Nôm
đ i ể n hình tr ướ c nguy c ơ b ị mai m ộ t trong m ộ t xã h ộ i đầ y bi ế n chuy ể n nh ư hi ệ n nay.


TÓM L ƯỢ C V Ề TRUY Ệ N KI Ề U
􀂄 Truy ệ n Ki ề u c ủ a Nguy ễ n Du (1765-1820) là m ộ t tác ph ẩ m th ơ kinh đ i ể n trong kho
tàng v ă n h ọ c Vi ệ t Nam, c ũ ng nh ư trong kho tàng v ă n h ọ c th ế gi ớ i, đượ c d ị ch sang
nhi ề u th ứ ti ế ng b ằ ng th ơ và v ă n xuôi, và đượ c xu ấ t b ả n r ấ t nhi ề u l ầ n b ằ ng ti ế ng Vi ệ t.
􀂄 Toàn b ộ tác ph ẩ m g ồ m 3254 câu (dòng), đượ c vi ế t b ằ ng th ể th ơ l ụ c bát, m ộ t th ể th ơ
quen thu ộ c và g ầ n g ũ i v ớ i ca dao c ủ a ng ườ i Vi ệ t, có c ố t truy ệ n l ấ y t ừ m ộ t chuy ệ n
tình lãng m ạ n đượ c vi ế t cùng th ờ i ở Trung Qu ố c c ủ a tác gi ả Thanh Tâm Tài Nhân.

􀂄 Tác ph ẩ m đ ã nêu lên m ộ t v ấ n đề l ớ n c ủ a xã h ộ i đươ ng th ờ i v ề quan ni ệ m s ố ng, v ề
trách nhi ệ m c ủ a m ỗ i ngu ờ i v ớ i chính b ả n thân mình, v ớ i xã h ộ i, và nh ữ ng xung độ t,
mâu thu ẫ n v ề đạ o lí làm ng ườ i.

􀂄 Truy ệ n Ki ề u đượ c vi ế t b ằ ng ch ữ Nôm t ượ ng hình ch ứ không ph ả i b ằ ng ch ữ qu ố c ng ữ
đươ ng đạ i, th ứ ch ữ vi ế t đ ã thay th ế ch ữ Nôm t ừ nh ữ ng n ă m đầ u c ủ a th ế k ỉ 20.

􀂄 T ừ tr ướ c đế n nay không t ồ n t ạ i b ả n nguyên tác Truy ệ n Ki ề u nào c ủ a Nguy ễ n Du, vì
tác ph ẩ m này ch ư a t ừ ng đượ c in ra, tr ừ m ộ t vài b ả n in kh ắ c g ỗ . Ch ắ c b ả n nguyên tác
đ ã b ị th ấ t l ạ c và khó có kh ả n ă ng tìm l ạ i đượ c.

􀂄 Các nhà kh ả o c ứ u t ừ tr ướ c đế n nay đề u c ố g ắ ng so sánh, đố i chi ế u các v ă n b ả n có
đượ c, cân nh ắ c t ừ ng ch ữ t ừ ng ý v ớ i m ụ c đ ích cu ố i cùng là tái d ự ng lên cho đượ c m ộ t
b ả n Ki ề u chu ẩ n, ph ụ c v ụ cho vi ệ c gi ả ng d ạ y th ố ng nh ấ t trong nhà tr ườ ng, c ũ ng nh ư
ph ụ c v ụ cho đ ông đả o b ạ n đọ c. Đ ó là m ộ t công vi ệ c h ế t s ứ c n ặ ng nh ọ c, nh ư ng c ũ ng
đầ y ý ngh ĩ a.

1. Xu ấ t x ứ tác ph ẩ m
􀂄 M ặ c dù Truy ệ n Ki ề u đượ c truy ề n mi ệ ng qua nhi ề u th ế h ệ c ủ a ng ườ i Vi ệ t trên kh ắ p
m ọ i mi ề n đấ t n ướ c, nh ư ng r ấ t ít ng ườ i nh ậ n th ứ c đượ c r ằ ng Truy ệ n Ki ề u không có 1
phiên b ả n chính th ứ c nào b ằ ng ch ữ Nôm do chính Nguy ễ n Du vi ế t ra đượ c l ư u truy ề n
l ạ i.
􀂄 Trên th ự c t ế , t ấ t c ả các tác ph ẩ m Truy ệ n Ki ề u đ ã đượ c xu ấ t b ả n tr ướ c đ ây, trong
n ướ c c ũ ng nh ư ngoài n ướ c, không bao g ồ m ph ầ n ch ữ Nôm, dù v ẫ n bi ế t đ ó là ph ầ n
b ả n g ố c để d ị ch ra ch ữ Qu ố c Ng ữ . Tuy nhiên, m ộ t vài phiên b ả n h ọ c thu ậ t xu ấ t b ả n
g ầ n đ ây đ ã đ ính kèm theo ph ầ n tác ph ẩ m b ằ ng ch ữ Nôm đượ c photo t ừ m ộ t b ả n in
kh ắ c g ỗ đ ã t ừ ng l ư u hành trong quá kh ứ .



2. Tính chính xác c ủ a phiên b ả n .
􀂄 Hi ệ n nay có r ấ t nhi ề u phiên b ả n Truy ệ n Ki ề u đượ c l ư u hành. 6 trong s ố nh ữ ng phiên
b ả n ch ữ Nôm lâu đờ i nh ấ t khác nhau đế n n ỗ i bu ộ c ph ả i đặ t ra nh ữ ng câu h ỏ i thú v ị
v ề khía c ạ nh d ị ch thu ậ t c ũ ng nh ư l ĩ nh v ự c v ă n ch ươ ng.
􀂄 Nh ữ ng phiên b ả n này, cùng v ớ i s ự khác bi ệ t c ủ a chúng, có th ể d ễ dàng nh ậ n ra t ừ
nh ữ ng so sánh khá thú v ị c ủ a các h ọ c gi ả , nh ữ ng nhà Ki ề u h ọ c đầ y tâm huy ế t.
􀂄 V ậ y làm cách nào để ng ườ i phiên d ị ch có th ể nh ậ n bi ế t đượ c s ự khác bi ệ t v ề ngôn t ừ
khi ti ế n hành công vi ệ c c ủ a mình?


S Ự H Ỗ TR Ợ C Ủ A PH ƯƠ NG TI Ệ N K Ĩ THU Ậ T
􀂄 Vào n ă m 2005, chúng tôi ch ọ n ra 6 phiên b ả n c ủ a Truy ệ n Ki ề u đ áng đượ c phân tích
nh ấ t đ ã đượ c các nhà chuyên môn kh ả o c ứ u r ấ t công phu.
􀂄 Chúng tôi đ ã xây d ự ng m ộ t c ơ s ở d ữ li ệ u đầ y đủ cho 6 phiên b ả n này b ằ ng 3 lo ạ i ch ữ
vi ế t : ch ữ Nôm g ố c, d ị ch ra ch ữ Qu ố c ng ữ và d ị ch ra ch ữ ti ế ng Anh.
􀂄 Cu ố i cùng, chúng tôi c ấ t gi ữ chúng d ướ i d ạ ng XML (Extensible markup language –

ngôn ng ữ đị nh d ạ ng có đ ánh d ấ u ) cùng v ớ i các ch ứ c n ă ng ti ế p c ậ n WEB cho ng ườ i
s ử d ụ ng.



1. Phiên b ả n n ă m 1866
􀂄 Truy ệ n Ki ề u n ă m 1866 là m ộ t phiên b ả n c ủ a Li ễ u V ă n Đườ ng, đượ c B ả o tàng Khu
l ư u ni ệ m Nguy ễ n Du ở Ngh ệ An tìm th ấ y.
􀂄 T ừ b ả n photo do B ả o tàng Khu l ư u ni ệ m Nguy ễ n Du g ử i t ặ ng, Nguy ễ n Qu ả ng Tuân,
m ộ t trong nh ữ ng h ọ c gi ả hàng đầ u v ề ch ữ Nôm và Truy ệ n Ki ề u, đ ã th ự c hi ệ n m ộ t
cu ộ c kh ả o c ứ u v ề phiên âm, kh ả o d ị và chú gi ả i. Tác ph ẩ m do Nhà xu ấ t b ả n V ă n h ọ c
và Trung tâm Nghiên c ứ u Qu ố c h ọ c xu ấ t b ả n n ă m 2004.
􀂄 B ả n Ki ề u n ă m 1866 này b ị m ấ t 18 t ờ (36 trang), làm thi ế u đ i 864 câu (m ỗ i trang 24
câu) trong t ổ ng s ố 3254 câu. Để b ổ khuy ế t cho 36 trang b ị m ấ t, tác gi ả đ ã l ấ y 36
trang t ươ ng ứ ng t ừ b ả n Ki ề u kh ắ c in n ă m 1871 để độ c gi ả ti ệ n tham kh ả o.




2. Phiên b ả n n ă m 1870
􀂄 Truy ệ n Ki ề u n ă m 1870 do Lâm No ạ Phu sao chép khi đ ang làm quan ở b ộ Công th ờ i
vua T ự Đứ c.
􀂄 B ả n Ki ề u 1870 này v ố n đượ c l ư u gi ữ ở Sài Gòn, sau đượ c bán ở ch ợ sách và may
m ắ n đượ c m ộ t ng ườ i con trai c ủ a ông Đ àm Quang H ư ng mua l ạ i. T ừ b ả n photo do
ông Đ àm Quang H ư ng g ử i t ặ ng, ông Nguy ễ n Qu ả ng Tuân đ ã th ự c hi ệ n m ộ t cu ộ c
kh ả o c ứ u v ề phiên âm, kh ả o d ị và chú gi ả i. Tác ph ẩ m do Nhà xu ấ t b ả n V ă n h ọ c và
Trung tâm Nghiên c ứ u Qu ố c h ọ c xu ấ t b ả n n ă m 2003.
􀂄 Phiên b ả n 1870 có 3260 câu, nhi ề u h ơ n 6 câu so v ớ i các phiên b ả n khác, c ụ th ể s ự
khác bi ệ t này nh ư sau:
- Thay n ộ i dung c ủ a 4 câu 531, 532, 533, 534 (có ở các b ả n 1866, 1871, 1872)
531 Đem tin thúc ph ụ t ừ đườ ng, 􅂤 信 叔 父 辤堂
532 Bơ v ơ l ữ th ấ n tha h ươ ng đề hu ề . 巴 爲 旅 􁴦他 鄕 提 攜
533 Liêu D ươ ng cách tr ở s ơ n khê, 遼 陽 隔 阻 山 溪
534 Xuân đườ ng kíp g ọ i Sinh v ề h ộ tang. 椿 堂 急 噲生 􁖹􃪞䘮 b ằ ng 6 câu:
531 M ở xem th ủ bút nghiêm đườ ng, 􃣋 䀡 手 筆 嚴 堂
532 Nh ắ n r ằ ng: “Thúc ph ụ xa đườ ng m ệ nh chung. 􂸇 浪 叔 父 賒塘 命 終
532a Hãy còn ký táng Liêu Đ ông 唉 群 寄 塟遼 東
532b C ố h ươ ng kh ơ i di ễ n ngàn trùng s ơ n khê 故 鄕 􁎑演 􂠆重 山 溪
533 Rày đư a linh th ấ n v ề quê 􄟜 迻 靈 襯 衛 圭
534 Th ế nào con c ũ ng ph ả i v ề h ộ tang.” 世 􀸷􀞮拱 沛 衛 護 䘮 - Thi ế u 2 câu 1217, 1218 (có ở các bản 1866, 1871, 1872, 1874, 1902)
1217 Gót đầ u vâng d ạ y m ấ y l ờ i, 􀽝 頭 􁙴􀣳􃶹􃗚 1218 D ườ ng chau nét nguy ệ t, d ườ ng phai v ẻ h ồ ng. 􅂂 珠 􅁇月 􅂂派 􁖧紅

- Thay n ộ i dung c ủ a 2 câu 1827, 1828 (có ở các b ả n 1866, 1871, 1872)
1827 S ợ quen dám h ở ra l ờ i, 􂉪 涓 敢 􁆱􃢿􃗚 1828 Khôn ng ă n gi ọ t ng ọ c s ụ t sùi nh ỏ sa. 坤 垠 湥玉 湥洡㳶沙 bằ ng 4 câu:
1826a Th ươ ng ôi! M ả nh s ắ t vào lò 傷 喂􂩋鉄 􁛡爐
1826b B ấ y lâu nay bi ế t giày vò đế n đ âu? 閉 􂵃􃢤別 􅅝紆 典 兜
4
1827 N ỗ i lòng ch ẳ ng đ ánh mà đ au, 餒 􂲋拯 打 􂯕􀯆 1828 Đ ang c ườ i nói b ỗ ng m ặ t r ầ u l ệ sa 當 唭呐俸 􂫝怞淚沙
- Thay n ộ i dung c ủ a 2 câu 1893, 1894 (có ở các b ả n 1866, 1871, 1872)
1893 Nh ữ ng e l ạ i lu ỵ đế n nàng, 仍 衣 吏 累 典 娘
1894 Đ ánh li ề u m ớ i s ẽ l ự a đườ ng h ỏ i tra. 打 料 買 仕 􂈓塘 􁄽查 b ằ ng 4 câu:
1893 Loanh quanh cua l ọ t bò sàng 􅅠 扃 􀡍 􂲕 􀌧 􅆧
1894 S ợ i dây th ươ ng đ ó hai đ àng ch ư a xong 􂉪 低 傷 妬 􀾦塘 渚 衝
1894a D ướ i th ề m, trên gh ế cùng trông 􅃬 㙴 􁞠 槣 拱 􁨵 1894b M ộ t l ờ i ch ư a m ở hai dòng đ ã sa 􄞑 􃗚 渚 􃣋􀾦􀩍㐌沙



3. Phiên b ả n n ă m 1871
􀂄 Truy ệ n Ki ề u n ă m 1871 là b ả n in kh ắ c g ỗ c ủ a Li ễ u V ă n Đườ ng, đờ i vua T ự Đứ c th ứ
24, g ồ m 3254 câu.
􀂄 T ừ b ả n photo c ủ a Th ư vi ệ n Liên tr ườ ng Đạ i h ọ c ngôn ng ữ Ph ươ ng Đ ông ở Paris
(Bibiotthèque Interuniversitaire des Langues Orientales), ông Nguy ễ n Qu ả ng Tuân
đ ã th ự c hi ệ n m ộ t cu ộ c kh ả o c ứ u v ề phiên âm, kh ả o d ị và chú gi ả i. Tác ph ẩ m do Nhà
xu ấ t b ả n V ă n h ọ c và Trung tâm Nghiên c ứ u Qu ố c h ọ c xu ấ t b ả n n ă m 2002.



4. Phiên b ả n n ă m 1872
􀂄 Truy ệ n Ki ề u n ă m 1872 là b ả n in kh ắ c g ỗ c ủ a Duy Minh Th ị d ướ i th ờ i vua T ự Đứ c.
􀂄 Hi ệ n b ả n Ki ề u 1872 đượ c l ư u gi ữ m ộ t b ả n t ạ i Th ư vi ệ n Leiden, Hà Lan (Leiden
Library, Holland, index 5803-6) và m ộ t b ả n t ạ i th ư vi ệ n riêng c ủ a gia đ ình c ụ Hoàng
Xuân Hãn ở Paris. T ừ b ả n photo l ạ i b ả n đượ c l ư u gi ữ t ạ i th ư vi ệ n c ủ a gia đ ình c ụ
Hoàng Xuân Hãn, giáo s ư Nguy ễ n Tài C ẩ n, m ộ t h ọ c gi ả hàng đầ u v ề ch ữ Nôm, đ ã
th ự c hi ệ n m ộ t cu ộ c nghiên c ứ u v ề phiên âm, kh ả o d ị và chú gi ả i. Tác ph ẩ m đượ c Nhà
xu ấ t b ả n Đạ i h ọ c Qu ố c gia Hà N ộ i xu ấ t b ả n n ă m 2002.
􀂄 Phiên b ả n 1872 có 3259 câu, nhi ề u h ơ n 5 câu so v ớ i các phiên b ả n khác:
1066a QU Ế TRONG TR Ă NG H Ạ NH TRÊN MÂY, 桂 􁨞􀢏杏 􁞠􂫁 1066b CÁT H Ồ NG N Ỡ ĐỂ CHO ĐẦ Y Đ O Ạ HOA! 葛 洪 女 底 朱 苔 墮 花
1066c H Ự U NH Ấ T TH Ể VÂN: 又 一 体 云
1072a TI Ế C Đ I Ề U L Ầ M CH Ẳ NG BI Ế T TA 惜 調 啉庄 別 些
1072b V Ể CHÂU V Ớ T NG Ọ C D Ễ Đ À NH Ư CH Ơ I. 􁖹 珠 􁤽玉 易 它 如 􄏑 5



5. Phiên b ả n n ă m 1874
􀂄 Truy ệ n ki ề u n ă m 1874 là phiên b ả n do T ă ng H ữ u Ứ ng chép tay d ướ i th ờ i vua T ự
Đứ c.
􀂄 Phiên b ả n này do Quang H ư ng s ư u t ầ m đượ c t ạ i Hu ế . Ti ế n s ĩ Nguy ễ n Huy Hùng,
MD, TEXAS phiên âm thành phiên b ả n đ i ệ n t ử n ă m 2002.
􀂄 Phiên b ả n 1874 có 3260 câu, nhi ề u h ơ n 6 câu so v ớ i các phiên b ả n khác, c ụ th ể s ự
khác bi ệ t này nh ư sau:
- Thay n ộ i dung c ủ a 4 câu 531, 532, 533, 534 (có ở các b ả n 1866, 1871, 1872)
531 Đ em tin thúc ph ụ t ừ đườ ng, 􅂤 信 叔 父 辤堂
532 B ơ v ơ l ữ th ấ n tha h ươ ng đề hu ề . 巴 爲 旅 􁴦他 鄕 提 攜
533 Liêu D ươ ng cách tr ở s ơ n khê, 遼 陽 隔 阻 山 溪
534 Xuân đườ ng kíp g ọ i Sinh v ề h ộ tang. 椿 堂 急 噲生 􁖹􃪞䘮 b ằ ng 6 câu:
531 M ở xem th ủ bút nghiêm đườ ng 􂗮 􀞞 手 筆 嚴 棠
532 Nh ắ n r ằ ng thúc ph ụ xa đườ ng m ệ nh chung 􂸇 浪 叔 父 賒唐 命 終
532a Hãy còn ký táng Liêu Đ ông 唉 群 寄 塟遼 東
532b C ố h ươ ng kh ơ i di ễ n ngàn trùng s ơ n khê 故 鄕 􁎑演 􂠆重 山 溪
533 Rày đư a linh t ẫ n v ề quê 􄟜 迻 靈 殯 衛 圭
534 Th ế nào con c ũ ng ph ả i v ề h ộ tang 世 􀸷昆 拱 沛 衛 護 䘮 - Thay n ộ i dung c ủ a 2 câu 1827, 1828 (có ở các b ả n 1866, 1871, 1872)
1827 S ợ quen dám h ở ra l ờ i, 􂉪 涓 敢 􁆱􃢿􃗚 1828 Khôn ng ă n gi ọ t ng ọ c s ụ t sùi nh ỏ sa. 坤 垠 湥玉 湥洡㳶沙 bằ ng 4 câu:
1826a Th ươ ng ôi, m ả nh s ắ t vào lò 傷 喂􂩋鉄 􁛡爐
1826b B ấ y lâu nay bi ế t d ầ y vò đế n đ âu 閉 婁 􃢤別 鞋 圩典 兜
1827 N ỗ i lòng ch ẳ ng đ ánh mà đ au 挼 􂲋 􄢏 打 麻 􀯆 1828 Đươ ng c ườ i nói b ỗ ng m ặ t r ầ u gi ọ t sa 當 唭呐俸 􂫝怞淚沙
- Thay n ộ i dung c ủ a 2 câu 1885, 1886 (có ở các b ả n 1866, 1871, 1872)
1885 S ớ m khuya h ầ u h ạ đ ài doanh, 􃵗 􁏤 候 下 􀭎萾 1886 Ti ể u th ư ch ạ m m ặ t, đ è tình h ỏ i tra. 小 姐 􀕁􂫝提 情 􁄽查 6 bằng 4 câu:

1885 S ớ m khuya h ầ u h ạ đ ài doanh 歛 􃿹侯 下 臺 營
1885a Nét s ầ u khôn c ưỡ ng l ệ tình khôn ng ă n 􅁇 愁 坤 強 湥情 群 垠
1885b Ra vào thui th ủ i chi ế c thân 囉 􁛡 退 退 隻 身
1886 Ti ể u th ư trông m ặ t xa g ầ n h ỏ i tra 小 姐 􁨴􂫝賒近 􁄽查

  6. Phiên b ả n n ă m 1902
􀂄 Truy ệ n Ki ề u n ă m 1902 là b ả n in kh ắ c g ỗ do Ki ề u Oánh M ậ u chú gi ả i d ướ i th ờ i vua
Thành Thái.
􀂄 Phiên b ả n này do Nguy ễ n Th ế & Phan Anh D ũ ng s ư u t ầ m, kh ả o chú và ch ế b ả n Nôm
trên c ơ s ở m ộ t phông ch ữ t ự t ạ o ra.
􀂄 B ả n in ch ữ Nôm đượ c Nhà giáo Ư u tú Nguy ễ n Đ ình Th ả ng hi ệ u đ ính. Tác ph ẩ m
đượ c Nhà xu ấ t b ả n Thu ậ n Hoá xu ấ t b ả n n ă m 2004.
􀂄 Phiên b ả n 1902 có 3256 câu, nhi ề u h ơ n 2 câu so v ớ i các các phiên b ả n khác, c ụ th ể
nh ư sau:
- Thay n ộ i dung c ủ a 4 câu 531, 532, 533, 534 (có ở các b ả n 1866, 1871, 1872)
531 Đ em tin thúc ph ụ t ừ đườ ng, 􅂤 信 叔 父 辞 堂
532 B ơ v ơ l ữ th ấ n tha h ươ ng đề hu ề . 巴 爲 旅 􁴦他 鄕 提 携
533 Liêu D ươ ng cách tr ở s ơ n khê, 遼 陽 隔 阻 山 溪
534 Xuân đườ ng kíp g ọ i sinh v ề h ộ tang. 椿 堂 急 哙生 􁖹􃪞䘮 b ằ ng 6 câu:
531 M ở xem th ủ bút nghiêm đườ ng 􃣋 䀡 手 筆 嚴 堂
532 Nh ắ n r ằ ng thúc ph ụ xa đườ ng m ệ nh chung 􂸇 浪 叔 父 賒塘 命 終
532a Hãy còn ký táng Liêu Đ ông 唉 群 寄 葬 遼 東
532b C ố h ươ ng kh ơ i di ễ n ngàn trùng s ơ n khê 故 鄕 􁎑演 􂠆重 山 溪
533 Rày đư a linh s ấ n v ề quê 􄟜 迻 灵 櫬 􁖹 圭
534 Th ế nào con c ũ ng ph ả i v ề h ộ tang 世 􀸷􀞮拱 沛 􁖹護 喪



PHÂN TÍCH NGUYÊN B Ả N
􀂄 Rút trích ra b ả ng t ầ n s ố xu ấ t hi ệ n c ủ a t ấ t c ả các ch ữ Nôm có m ặ t trong 1 phiên b ả n,
ho ặ c trong t ấ t c ả các phiên b ả n.
7
􀂄 Rút trích ra b ả ng t ầ n s ố xu ấ t hi ệ n c ủ a t ấ t c ả các ch ữ Qu ố c ng ữ có m ặ t trong 1 phiên
b ả n, ho ặ c trong t ấ t c ả các phiên b ả n.
􀂄 So sánh t ừ ng dòng, ch ỉ ra s ố dòng gi ố ng nhau ho ặ c khác nhau (c ả v ề ch ữ Nôm và
ch ữ Qu ố c ng ữ ) gi ữ a các phiên b ả n.
8
a. Gi ố ng nhau v ề ch ữ Nôm:
b. Gi ố ng nhau v ề ch ữ Qu ố c Ng ữ :
c. Khác nhau v ề ch ữ Nôm:
9
d. Khác nhau v ề ch ữ Qu ố c ng ữ :
􀂄 Xem xét m ộ t ch ữ và toàn b ộ ng ữ c ả nh c ủ a nó trong 1 phiên b ả n ho ặ c trong t ấ t c ả các
phiên b ả n.
􀂄 So sánh v ị trí c ủ a t ừ ng ch ữ trong t ừ ng dòng c ụ th ể c ủ a t ấ t c ả các phiên b ả n. Nhìn vào
k ế t qu ả , chúng ta có th ể th ấ y ch ữ gì (c ả Nôm và Qu ố c ng ữ ) đượ c s ử d ụ ng t ạ i m ộ t v ị
trí nh ấ t đị nh c ủ a câu th ơ trong t ấ t c ả các phiên b ả n.
10
􀂄 Ch ỉ ra s ự xu ấ t hi ệ n c ủ a nh ữ ng ch ữ đượ c xem là k ị huý theo đị nh l ệ kiêng huý d ự a
vào danh sách đượ c l ậ p s ẵ n.
Ví d ụ , d ự a vào Nh ữ ng đị nh l ệ và Danh sách ch ữ kiêng huý th ờ i T ự Đứ c ( Tham kh ả o:
Ngô Đứ c Th ọ ; Ch ữ huý Vi ệ t Nam qua các tri ề u đạ i. Nxb V ă n Hoá; 1997)

1 Kim 녴
2 Hoàng 潢
3 Nguyên 源
4 Thái 놞
5 T ầ n 瀕
6 C ầ n 勤
7 lan 灡
8 Ng ạ n 彦
9 Chu 녶
10 Tùng 松
11 Th ụ 澍
12 V ượ ng 王
13 Khoát 濶
14 Hi ể u 曉
15 Thu ầ n 淳
16 Hân 녷
17 C ố n 㫻
18 C ụ 노
19 Noãn 暖
20 Ánh 暎
21 Ch ủ ng 種
22 Ki ể u 놝
23 Đả m 膽
24 Tuy ề n 녹
25 Dung 놚
26 Miên 綿
27 Tông 宗
28 Giai 佳
29 An 安
30 Viên 園
31 Đ ôi 堆
32 L ĩ nh 領
33 Đặ c 特
34 Quy ề n 權
35 Th ư 書
36 Dung 容
37 Tr ừ 除
38 Ki ế n 놛
39 Hoàn 環
40 lan 蘭
41 Đ ang 놜
42 Kính 敬
43 Th ậ t 實
44 Hoa 華
45 C ầ u 球
46 H ạ o 浩
47 H ằ ng 恒
48 Thì 時
49 H ồ ng 洪
50 Nh ậ m 任

Chúng ta có th ể tìm ra đượ c nh ữ ng h ợ p tr ườ ng kh ắ c (vi ế t) khác bi ệ t. Xin đơ n c ử 2 ch ữ 華
hoa và 時 Thì:
11
Nôm Qu ố c ng ữ 1866 1870 1871 1872 1874 1902
華 hoa 0 􅃻 (1) * 0 􅃻 (3),
匕 (1)
0 녱 (1)
時 thì 0 􄙫 (54) 辰 (1),
􃖯 (1)
􅆭 (1)
时 (5)
􄙫 (2)
0



Ví d ụ :

1870 : 􂠆 秋 薄 命 􄞑􀵙才 􅃻 Nghìn thu b ạ c m ệ nh m ộ t đờ i tài hoa (câu 416)
􄙫 朱 􂣉渃水 潮 沚 􂻉 Thì cho ng ọ n n ượ c thu ỷ tri ề u ch ả y xuôi (câu 3082)
1872: 􅆭 􄟜 再 世 相 逢 Thì rày tái th ế t ươ ng phùng (câu 3039)
􂠆 秋 溥 􂨹􂗖􀵙才 􅃻 Nghìn thu b ạ c m ệ nh m ộ t đờ i tài hoa (câu 416)

1902 : 􄞑 浪 녱 嶽 􄞑浪 歸 雲 M ộ t r ằ ng Hoa Nh ạ c m ộ t r ằ ng Quy Vân (câu 478)
􄞑 情 􅇃􀛘􀾦情 􅇃牢 M ộ t tình thì ch ớ hai tình thì sao (câu 860)
Tìm ra nh ữ ng tr ườ ng h ợ p đượ c thay b ằ ng 1 ch ữ khác v ớ i âm đọ c khác. Xin đơ n c ử ch ữ 任
(Nh ậ m)
Nôm Qu ố c ng ữ 1866 1870 1871 1872 1874 1902
任 nh ậ m 0 宰 (1)
調 (2)
0 0 0 0
Ví d ụ

1870 :
􁙴􃢿 外 宰 臨 淄 Vâng ra ngo ạ i t ể Lâm Tri (câu 2873)
金 􄍬改 調 南 平 Kim nay c ả i đ i ệ u Nam Bình (câu 2949)
払 王 拱 改 調 城 淮 陽 Chàng V ươ ng c ũ ng c ả i đ i ệ u thành Duy D ươ ng (câu 2950)
􀂄 Ch ỉ ra ch ữ thay th ế ch ữ l ặ p l ạ i ngay sau m ộ t ch ữ b ấ t kì theo d ạ ng láy ho ặ c không
theo d ạ ng láy (l ặ p l ạ i ng ẫ u nhiên) ở 3 phiên b ả n 1866, 1871, 1872.
o Phiên b ả n 1866 dùng “ 􃖯 ” để thay th ế ch ữ l ặ p l ạ i:
1815 皮 外 噠􃖯呐唭 B ề ngoài th ơ n th ớ t nói c ườ i
900 􃾪 湄 退 􃖯圭 􂧝􄞑身 N ắ ng m ư a thui th ủ i quê ng ườ i m ộ t thân
1189 房 􂒄􃖯仍 湥洡 Bu ồ ng riêng riêng nh ữ ng s ụ t sùi
910 􀽖 􀼦 審 􃖯􂠤􃖯􅂤􃖯 Góc tr ờ i th ă m th ẳ m ngày ngày đă m đă m
o Phiên b ả n 1871 dùng ch ữ “ 􃖯 ” và ch ữ “ 匕 ” để thay th ế ch ữ l ặ p l ạ i:
* S ố l ầ n xu ấ t hi ệ n.
12
241 軒 斜 擱 䏾征 􃖯 Hiên tà gác bóng chênh chênh ,
242 浽 􂒄 􃖯 鄭 􀷐􂒄没 命 N ỗ i riêng riêng tr ạ nh t ấ c riêng m ộ t mình.
723 􀓿 㛪 匕 固 􀙬􃗚 C ậ y em, em có ch ị u l ờ i,
744 􁴻 囂 匕 􀼅時 咍姉 􁖹 Th ấ y hiu hiu gió thì hay ch ị v ề .
o Phiên b ả n 1872 dùng ch ữ “ 􃖯 ” và ch ữ “ 匕 ” để thay th ế ch ữ l ặ p l ạ i:
2159 吕 自 落 􀉀􃖯􃢿 L ỡ t ừ l ạ c b ướ c b ướ c ra,
2248 㐌 􂖗 昆 􄀬方 􀼦􄡴􃖯 Đ ã mòn con m ắ t ph ươ ng tr ờ i đă m đă m .
449 暈 􀢏􃵑匕 􀽉􀼦 V ầ ng tr ă ng V Ặ C v ặ c gi ữ a tr ờ i,
450 丁 寧 􀾦􂫝􂗖􃗚双 匕 Đ inh ninh hai M Ặ T m ộ t l ờ i song song.
618 身 群 渚 惜 匕 之 旦 綠 Thân còn CH Ả ti ế c ti ế c gì đế n duyên!



Ngo ạ i l ệ là trong c ả 3 phiên b ả n, ở m ộ t s ố câu có ch ữ l ặ p l ạ i nh ư ng v ẫ n không dùng ch ữ
thay th ế :

(1886) 121 泑 泑 覩 祿 拸核 Ào ào đổ l ộ c ĐƯ A cây,
124 􀥞 􀺻 曾 􀉀􃽯印 停 停 D ấ u giày t ừ ng b ướ c RÊU IN rành rành .
3236 天 年 弋 弋 官 堦各 吝 THIÊN NIÊN d ằ ng d ặ c quan giai l ầ n l ầ n
(1871) 121 泑 泑 覩 祿 拸核 Ào ào đổ l ộ c ĐƯ A cây,
124 􀥞 􀺻 曾 􀉀􃽯印 停 停 D ấ u giày t ừ ng b ướ c RÊU IN rành rành .
3236 千 年 弋 弋 官 堦吝 􃖯 THIÊN NIÊN d ằ ng d ặ c quan giai l ầ n l ầ n
(1872) 229 􀀀􂠤 􂠤 􄏑 􂯉 淡 仙 NGÀY ngày ch ơ i m ả Đạ m Tiên
1617 爫 朱 朱 􄼱朱 迷 "Làm cho cho m ệ t cho mê,
2047 􄟜 􁙴 面 献 冷 冷 Rày vâng di ệ n hi ế n rành rành ,



S Ự C Ả I THI Ệ N TRONG T ƯƠ NG LAI
􀂄 Trên c ơ s ở l ắ ng nghe nh ữ ng ý ki ế n t ừ phía các nhà nghiên c ứ u, b ổ sung thêm nh ữ ng
yêu c ầ u, cách th ứ c phân tích nguyên b ả n nào c ầ n thi ế t cho quá trình nghiên c ứ u v ă n
bản Truyệ n Ki ề u.
􀂄 Ch ỉ ra 1 âm qu ố c ng ữ đượ c dùng để phiên cho bao nhiêu ch ữ Nôm trong t ấ t c ả các
phiên b ả n.

Chúng tôi hi vọ ng, v ớ i các ứ ng d ụ ng b ổ sung này có th ể đ em l ạ i cho các nhà Ki ề u h ọ c
m ộ t h ứ ng thú m ớ i trong vi ệ c nghiên c ứ u c ủ a mình .

Hội Bảo tồn Di sả n chữ Nôm

13- Nguyễn Du và Truyện Kiều - Nôm Foundation

Nguyễn Du và Truyện Kiều
(1766-1820)








Nguyễn Du là nhà thơ sống hết mình, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của ông xuyên suốt các tác phẩm của ông, xuyên suốt cuộc đời ông và thể hiện rõ nhất qua áng văn chương bất hủ là Truyện Kiều.



Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, tức ngày 3/1/1766 ở kinh thành Thăng Long trong một gia đình quý tộc lớn. Thân sinh ông là Hoàng Giáp Nguyễn Nghiễm (1708-1775), làm quan đến tham tụng (tể tướng) tước Xuân quận công triều Lê. Mẹ ông là bà Trần Thị Tần, quê Kinh Bắc, đẹp nổi tiếng. 13 tuổi lại mồ côi mẹ, ông phải ở với người anh là Nguyễn Khản. Đời sống của người anh tài hoa phong nhã, lớn hơn ông 31 tuổi này rất có ảnh hưởng tới nhà thơ.
Sự thăng tiến trên đường làm quan của Nguyễn Du khá thành đạt. Nhưng ông không màng để tâm đến công danh. Trái tim ông đau xót, buồn thương, phẫn nộ trước "những điều trông thấy" khi sống lưu lạc, gần gũi với tầng lớp dân đen và ngay cả khi sống giữa quan trường. Ông dốc cả tấm lòng mình vào văn chương, thi ca. Thơ ông là tiếng nói trong trái tim mình. Đấy là tình cảm sâu sắc của ông đối với một kiếp người lầm lũi cơ hàn, là thái độ bất bình rõ ràng của ông đối với các số phận con người. Xuất thân trong gia đình quý tộc, sống trong không khí văn chương bác học, nhưng ông có cách nói riêng, bình dân, giản dị, dễ hiểu, thấm đượm chất dân ca xứ Nghệ.
Về văn thơ nôm, các sáng tác của ông có thể chia thành 3 giai đoạn. Thời gian sống ở Tiên Điền - Nghi Xuân đến 1802, ông viết "Thác lời trai phường nón Văn tế sống 2 cô gái Trường Lưu". Đây là 2 bản tình ca thể hiện rất rõ tâm tính của ông, sự hoà biểu tâm hồn tác giả với thiên nhiên, với con người. Ba tập thơ chữ Hán thì "Thanh hiên thi tập" gồm 78 bài, viết lúc ở Quỳnh Côi và những năm mới về Tiên Điền, là lời trăn trở chốn long đong, là tâm sự, là thái độ của nhà thơ trước cảnh đời loạn lạc. Sau 1809, những sáng tác thơ của ông tập hợp trong tập "Nam Trung Tạp Ngâm" gồm 40 bài đầy cảm hứng, của tâm sự, nỗi niềm u uất.

Truyền Kiều được Nguyễn Du chuyển dịch, sáng tạo từ cuốn tiểu thuyết Truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, tên thật là Tử Văn Trường, quê ở huyện Sơn Am, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc. Truyện Kiều đã được nhân dân ta đón nhận một cách say sưa, có nhiều lúc đã trở thành vấn đề xã hội, tiêu biểu là cuộc tranh luận xung quanh luận đề "Chánh học và tà thuyết" giữa cụ Nghè Ngô Đức Kế và ông Phạm Quỳnh thu hút rất nhiều người của 2 phía cùng luận chiến. Không chỉ ảnh hưởng sâu sắc trong tầng lớp thị dân, Truyện Kiều còn được tầng lớp trên say mê đọc, luận. Vua Minh Mạng là người đầu tiên đứng ra chủ trì mở văn đàn ngâm vịnh Truyện Kiều và sai các quan ở Hàn Lâm Viện chép lại cho đời sau. Đến đời Tự Đức, nhà vua thường triệu tập các vị khoa bảng trong triều đến viết và vịnh Truyện Kiều ở văn đàn, ở Phu Văn Lâu.

Ngày nay, Truyện Kiều vẫn đang được các nhà xuất bản in với số lượng lớn, được dịch ra rất nhiều thứ tiếng. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đánh giá cao Truyện Kiều. Dịch giả người Pháp Rơ-Ne-Crir-Sắc khi dịch Truyện Kiều đã viết bài nghiên cứu dài 96 trang, có đoạn viết: "Kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh một cách xứng đáng với kiệt tác của bất kỳ quốc gia nào, thời đại nào". Ông so sánh với văn học Pháp: "Trong tất cả các nền văn chương Pháp không một tác phẩm nào được phổ thông, được toàn dân sùng kính và yêu chuộng bằng quyển truyện này ở Việt Nam". Và ông kết luận: "Sung sướng thay bậc thi sĩ với một tác phẩm độc nhất vô nhị đã làm rung động và ca vang tất cả tâm hồn của một dân tộc". Năm 1965 được Hội đồng Hoà bình Thế giới chọn làm năm kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du.

Đọc Truyện Kiều ta thấy xã hội, thấy đồng tiền và thấy một Nguyễn Du hàm ẩn trong từng chữ, từng ý. Một Nguyễn Du thâm thuý, trải đời, một Nguyễn Du chan chứa nhân ái, hiểu mình, hiểu đời, một Nguyễn Du nóng bỏng khát khao cuộc sống bình yên.



An Introduction to Truyện Kiều An electronic version

http://nomfoundation.org/vnpf/nfkieu.php?IDcat=151


The Truyện Kiều, The Story of Kiều, by Nguyễn Du (1765-1820) is the great classical poem of Vietnam. Written in 3,254 lines in a couplet form popular with the native, oral, ca dao folk tradition, while at the same time drawing its narrative from a prose romance written in Chinese, the work remains resonant with Vietnamese concepts of individual responsibility to self, to society, and to conflicting spiritual codes. The Truyện Kiều was written in ideographic Nôm, not in the modern roman-script writing system known as quốc-ngữ, which replaced Nom in the early 20th century. No single, definitive text of the Truyện Kiều exists and, historically, the work was never printed except in woodblock editions.

Recent scholarship has revealed differing versions of the Truyện Kiều. Our Foundation and its Nôm Na staff have digitized six variant versions of the poem, dating from 1866 (the earliest found so far) to 1904, the so-called Imperial Edition. Using the brilliant scholarly work of Nguyễn Tài Cẩn (Moskva), Nguyễn Quảng Tuân (Thành phố Hồ chí Minh), Nguyễn Thế, Phan Anh Dũng and Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Ðinh Thảng (Huế), and Dr. Nguyễn Huy Hùng, MD (Texas), we have created a tool that allows the display of each version as well as immediate comparison of individual lines from version-to-version, as well as the identification of the repetition of individual words and glossaries.

With tools like these, we hope to unlock the treasures of Vietnam's Nôm literary past in an open digital archive for which the Truyện Kiều is the first offering.









Kiều 1866



Bản Liễu Văn Ðường—Nghệ An
Nguyễn Quảng Tuân—Phiên âm - khảo dị
Nxb Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2004)




Ông Nguyễn Quảng Tuân là người đã sưu tầm được tại Paris, thủ đô nước Pháp, bản Kiều Liễu Văn Đường 1871, hồi đó được xem là bản Kiều Nôm có niên đại cổ nhất. Ông đã phiên âm, khảo dị và cho in cuốn Kiều đó năm 2002. Ông cũng may mắn, trong chuyến đi Mỹ, được ông Đàm Quang Hưng, chủ nhân của bản Kiều do Nguyễn Hưng Lập (Tiểu Tô Lâm – Noạ Phu) chép tay năm 1870 ở kinh đô Huế, tặng cho một bản photocopy. Về nước, ông cũng phiên âm và khảo dị cẩn thận để cống hiến cho bạn đọc một quyển Truyện Kiều - Bản Kinh, năm 2003. Ngoài ra ông vẫn kiên trì theo đuổi việc nghiên cứu văn bản Truyện Kiều và đã xuất bản được nhiều công trình khảo cứu.
Nay nhân bản Liễu Văn Đường 1866 mới phát hiện ở Nghệ An, ông lại may mắn được Bảo tàng Khu lưu niệm Nguyễn Du tặng cho một bản photocopy. Ông cần cù đêm ngày phiên âm, khảo dị, so sánh hai bản 1866 và 1871 để tiếp tục công việc nghiên cứu văn bản Truyện Kiều mà ông đã say mê theo đuổi từ mấy chục năm nay.
Việc sưu tầm được bản Kiều nôm cổ nhất ở Nghệ An là công lao của các nhà hoạt động văn hoá ở Nghệ Tĩnh, quê hương của Đại thi hào Nguyễn Du.
Ông Nguyễn Quảng Tuân là người nối tiếp và nối dài ra công việc sưu tầm ấy: tất cả đều cùng chung một tấm lòng yêu quý vô hạn đối với di sản của văn dân tộc.
Cách đây không lâu, báo chí đưa tin Bảo tàng Thượng Hải ở Trung Quốc đã phải bỏ ra đến 4 triệu rưỡi USD để mua từ Hồng Kông một văn bản chữ thảo đời Tống.
Ở Luân Đôn, quyển Truyện Kiều, một bản nôm chép tay năm 1894, đã được thư viện Anh quốc (The British Library) mua với một giá cực kỳ đắt tại một cửa hàng sách quí hiếm (Sam Fogg Rare Books and Manuscript ở số 35 St. George Street) vì quyển ấy cực kỳ đẹp và cũng rất có giá trị.
Xưa nay, những bản thảo, bản gốc, thậm chí những sổ tay ghi chép... của các đại văn hào đều được coi là những bảo vật quốc gia đối với văn hoá và khoa học. Việc sưu tầm và nghiên cứu các văn bản cổ là sự tìm về cội nguồn của tác phẩm, cốt tìm ra cái bộ mặt thật (bản lai diện mục) của tác phẩm. Việc này là một việc vô cùng khó khăn, công phu, cần sự phối hợp với nhiều chuyên ngành nghiên cứu khác nhau mới mong tìm ra được một câu, một chữ. Những chữ của Nguyễn Du hay của Đỗ Phủ, Pushkin, Shakespeare... là nhất tự thiên kim, nên ta vô cùng trân trọng.
Ông Nguyễn Quảng Tuân là người có công và có duyên với công việc khó khăn và hệ trọng đó.
Năm 2002 chúng tôi đã phiên âm và cho xuất bản quyển Kim Vân Kiều tân truyện của Liễu Văn Đường khắc in năm 1871. Bản nôm cổ ấy lúc trước được coi là cổ nhất còn lưu giữ được một bản tại Thư viện Trường Sinh ngữ Đông Phương ở Paris (Pháp).
Thế rồi đến tháng 5 năm 2004 một bản Kim Vân Kiều tân truyện cũng của nhà Liễu Văn đường đã được phát hiện ở gia đình ông Nguyễn Thế Quang, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Bản này được khắc in năm 1866, niên hiệu Tự Đức thứ 19, cổ hơn bản của Thư viện Trường Sinh ngữ Đông Phương tới 6 năm.
Bản Kiều cổ nhất này thật vô cùng quý giá chỉ tiếc nó đã bị xé mất 18 tờ tức 36 trang làm thiếu đi 864 câu.
Khu lưu niệm Nguyễn Du do ông Đinh Sỹ Hồng làm Trưởng ban đã mua được về để trưng bày ở nhà Bảo tàng tại xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Chúng tôi hân hạnh đã được ông Hồng gửi tặng cho một bản photocopy và đã cố gắng nghiên cứu, phiên âm, khảo dị và chú giải để kịp thời cho in hầu có thể cung cấp cho các độc giả một bản Kiều nôm cổ, cổ nhất cho tới nay.
Trong công việc biên khảo quyển sách này chúng tôi đã nhận được sự động viên nhiệt tình của Gs Ts Mai Quốc Liên, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc học.
Sách gồm có ba phần:
PHẦN I: Nhận định về bản Kim Vân Kiều tân truyện khắc in năm 1866.
PHẦN II: Văn bản Truyện Kiều.
Chúng tôi đã cho in đối chiếu bản Nôm với bản quốc ngữ phiên âm.
Vì bản in năm 1866 bị mất 36 trang nên để bổ khuyết cho các trang thiếu ấy, chúng tôi đã cho in 36 trang trích từ bản nôm in năm 1871 để các độc giả tiện tham khảo.
PHẦN III: Chú giải.
Các chú giải có thể dùng chung cho cả ba bản: bản 1866, bản 1871, và bản quốc ngữ ghi trong phần Khảo dị.
Nghĩ rằng việc phiên âm, khảo dị và chú giải khó tránh khỏi những sai sót, chúng tôi thành thực yêu cầu các độc giả vui lòng đón góp cho những ý kiến quí báu để khi tái bản chúng tôi có thể sửa chữa lại cho được chính xác hơn.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn trước.

Kiều 1870 
Bản Kinh đời Tự Ðức Nguyễn Quảng Tuân—Phiên âm - khảo dị Nxb Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2003)
Cuốn TRUYỆN KIỀU – Bản Nôm cổ nhất – Liễu Văn Đường tàng bản (1871) do ông Nguyễn Quảng Tuân sao chụp ở Thư viện Liên trường Sinh ngữ Đông phương – Paris, sau khi phổ biến đã nhận được sự chú ý của giới nghiên cứu và các bạn đọc gần xa.
Vào đầu tháng 3 năm 2003 vừa qua, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học đã tổ chức tại Hà Nội một cuộc Hội thảo lấy tên là Đi tìm nguyên tác Truyện Kiều. Đông đảo các học giả, các nhà nghiên cứu Hán – Nôm, nghiên cứu ngữ học, nghiên cứu văn học ở Hà Nội và một vài tỉnh lân cận đã tới dự và đã phát biểu nhiều ý kiến có giá trị về mặt phương pháp luận nghiên cứu cũng như đã đề xuất nhiều ý kiến giải quyết một số trường hợp cụ thể.
Cuộc Hội thảo dĩ nhiên là hướng về văn bản Truyện Kiều nói chung chứ không nhằm vào một công trình riêng biệt nào. Nhưng vì bản Kiều Liễu Văn Đường của nhà nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân và bản Kiều Duy Minh Thị của Gs Nguyễn Tài Cẩn đều vừa mới công bố, nên Hội thảo cũng đã chú ý nhiều đến hai công trình này.
Việc nghiên cứu văn bản Truyện Kiều do đó đã tạo được một đà mới.
Tiếp tục công trình nghiên cứu văn bản Truyện Kiều, ông Nguyễn Quảng Tuân lại cho công bố một bản Kiều nôm cổ nữa, BẢN KINH, do Lâm Noạ Phu sao chép khi đang làm quan ở bộ Công dưới triều Tự Đức, vào năm 1870 (sớm hơn bản Liễu Văn Đường 1 năm).
Bản này vốn được lưu giữ ở Sài Gòn trong một tủ sách tư gia, sau 1975, đâu ngờ lại được bày bán ở chợ sách cũ mà may mắn con trai ông Đàm Quang Hưng đã mua được và gửi sang cho ông ở Hoa Kỳ.
Đến khi có dịp sang thăm Hoa Kỳ – ở Houston (Texas) – ngày 8 tháng 9 năm 2000 – ông Tuân đã được ông Hưng kính tặng cho một bản sao quyển Đoạn trường tân thanh.
Nhận thấy bản Kiều nôm ấy là một bản Kinh có giá trị, ông Tuân đã có bài viết trên tạp chí Kiến thức Ngày nay (số 368 ra ngày 1-11-2000) để giới thiệu văn bản cổ ấy với các nhà nghiên cứu và các độc giả trong nước.
Ông kiên trì làm việc: phiên âm, luận giải và khảo dị giữa bản Kinh của Lâm Noạ Phu với các bản nôm của Liễu Văn Đường (1871), Duy Minh Thị (1879), Tăng Hữu Ứng (1874), Abel des Michels (1884, do Trần Ngươn Hanh sao chép), Kiều Oánh Mậu (1902), Quan Văn Đường thời Hiền Thi Tự (1906), Phúc Văn Đường (1918), Quảng tập Liễu Văn Đường (1924), Quan Văn Đường (1925), và Chiêm Vân Thị (viết sau năm 1905 và được in năm 1965). Ông có phiên đủ các câu khảo dị của Lâm Noạ Phu (Nhất tác... ) và dịch các lời bình của Vũ Trinh và Nguyễn Lượng. Ông đã làm khảo dị cẩn thận giữa hai bản: Lâm Noạ Phu và Liễu Văn Đường để các độc giả thấy rõ sự khác biệt giữa bản Kinh và bản Phường. Ông cũng khảo dị với bản Tăng Hữu Ứng, một bản Kiều có nhiều câu chép theo bản Kinh.
Ngày nay chúng ta được thấy tận mắt bản Kinh của Lâm Noạ Phu sao chép ngoài các bản Kinh chỉ được nghe nói mà Kiều Oánh Mậu và Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim đã dùng để đỗi chiếu, san định khi phiên âm Truyện Kiều.
Như thế rõ ràng là đã có các bản Truyện Kiều Bản Kinh. Các bản Kinh này không được in ra, mà được chép tay, như Đào Nguyên Phổ đã kể lại cảnh người ta “tranh nhau sao chép đến nỗi giá giấy đắt như giấy quí Lạc Đô”.
Thời xưa, việc chép tay những kiệt tác như thế là chuyện thường, trong khi việc in khắc ván có những khó khăn, phức tạp, tuy có tác dụng phổ biến rộng rãi, thì việc chép tay, với những nhà thư pháp là một việc thú vị, một việc mang tính nghệ thuật với cá tính của từng người.
Tất nhiên các bản chép tay ở Kinh đô này có những khác biệt với các bản Phường cùng thời. Nó đã được vua quan triều Tự Đức, một ông vua mê Kiều và theo lời truyền đã có nhuận sắc bản Kiều cùng với các cận thần (là những nhà văn, nhà nho lỗi lạc) do đó đã để lại dấu ấn trong những bản Kiều này.
Việc công bố bản Kinh do Lâm Noạ Phu sao chép cũng đem lại những thông tin mới. Trong Lời Tựa, câu: Thị... xuất tự Hồng Sơn liệp hộ Nguyễn Du Tố Như ông thủ thảo, lưu truyền ngũ (thập niên) vu tư... (Bản Kiều này xuất xứ từ chính thủ bút của Hồng Sơn liệp hộ Nguyễn Du được lưu truyền từ 50 năm nay..." đã cho ta thấy rằng đây có thể là bản được chép từ bản gốc, bản tác giả và bản này lưu truyền đã 50 năm nay (tính từ năm 1870 ngược lại đến năm 1820, năm Nguyễn Du mất).
Nếu đi sâu vào từng chữ, từng câu thì có lắm chữ lắm câu có thể làm căn cứ để đối chiếu, luận giải với các bản Kiều nôm cổ khác, từ đó cố gắng có được cái bộ mặt thực - bản lai diện mục của Truyện Kiều, một việc vô cùng thú vị và khó khăn, cần phải huy động nhiều ngành học, nhiều học giả...
Bản phiên âm và khảo dị này của ông Nguyễn Quảng Tuân tuy đã rất công phu, nhưng phiên âm nôm là việc không đơn giản, có thể còn có một số chữ người đọc cách này kẻ đọc cách khác, cũng cần cùng nhau thảo luận thêm để tiếp cận chân lý, tạo nên một diễn đàn học thuật vừa hào hứng, vừa tao nhã.
Xưa đã chẳng có người cho rằng Truyện Kiều có tác dụng kích dương tao nhã đó sao?

Kiều 1871
Bản Liễu Văn Ðường Nguyễn Quảng Tuân—Phiên âm - khảo dị Nxb Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2002)
NHÀ NGHIÊN CỨU NGUYỄN QUẢNG TUÂN VÀ VĂN BẢN TRUYỆN KIỀU.
Ông Nguyễn Quảng Tuân thuộc lớp trí thức Tây học, được đào tạo chu đáo về tiếng Pháp và văn hoá Pháp. Cơ duyên nào đã khiến ông từ biển Tây đi vào biển Tàu - biển Hán rồi từ đó đi vào biển Nôm biển Ta, và rồi một đời gắn bó với việc khảo cứu Truyện Kiều?
Chắc chắn rằng đó là bởi lòng yêu sâu nặng đối với tiếng Ta, đối với văn hoá nước nhà, bởi lòng yêu quê hương, đất nước. Nó nằm sâu như một hạt giống dưới lớp đất nặng phù sa quê nhà Kinh Bắc của ông và chợt một hôm nó nẩy mầm và vươn ra ánh sáng.
Do nhiều nguyên do, hơn hai nghìn năm văn hoá Hán Việt, Hán Nôm cơ hồ đã bị đứt lìa đối với nên văn hoá ngày nay. Đó là một mất mát quá lớn và quá đau đớn, bởi vì không có gì có thể đo lường được và bù đắp được. Không sống trong nền văn hoá phương Đông với chủ nghĩa nhân văn tuyệt diệu ấy mà Truyện Kiều chỉ là một trong muôn ngàn lệ chứng thôi người ta khó mà đối thoại và hiểu nhau. Người ta mất mà không biết mình mất, đôi khi còn tự hào ầm ĩ là nhờ thế người ta bước đến được đến các nền văn minh khác, rời bỏ được cái cổ hủ, cũ kỹ của dân tộc và phương Đông, trong khi ở các nền văn minh ấy thì họ chỉ được xem như một ông Tây An Nam, một người chỉ mới vừa dính một chút bụi hoa lệ của các kinh thành Âu Mỹ. Tôi hoàn toàn không có ý bãi ngoại hay đóng cửa để nhốt mình vào cái cũ xưa, nhưng ở đây có vấn đề!
Trong cái tình thế đó, những người tiếp nhận nhiều nền văn hoá Tây-Đông vừa lại quay về và đam mê với văn hoá Việt, như ông Nguyễn Quảng Tuân (và rất nhiều nhà nghiên cứu khác mà ta đã biết) là một xúc động. Nó chứng minh rằng, tuy còn lẻ loi, những người như thế đang đi đúng đường đúng hướng và họ sẽ có những đóng góp có ý nghĩa cho văn hoá dân tộc.
Mấy chục năm nay, đặc biệt là từ sau 1975, ông Nguyễn Quảng Tuân đã liên tục cho ra những tác phẩm biên khảo với một sức làm việc và lòng đam mê không mỏi (tuy ông đã ở vào tuổi gần bát tuần). Trong nhiều công trình, người ta đặc biệt chú ý đến các bản khảo cứu về văn bản Truyện Kiều của ông.
Gần đây, việc tìm tòi về văn bản Truyện Kiều vụt trở nên náo nhiệt. Nhiều nhà nghiên cứu với những kiến giải khác nhau đã đem đến cho giới nghiên cứu văn bản Truyện Kiều và bạn đọc nhiều điều lý thú. Tựu chung, người ta nhận thấy về cơ bản nay đã có một văn bản Truyện Kiều tạm ổn định, đã trung thành với nguyên tác Nguyễn Du, với thiên tài Nguyễn Du, thi pháp Nguyễn Du... Mà đó là công lao của nhiều thế hệ, của toàn dân tộc, từ các nhà nho khoa bảng cho đến đến những người bình dân đọc Kiều, ngâm Kiều, sống với Kiều... Họ đã trả về cho Nguyễn Du những chữ đích thực thiên tài. Nhưng việc tiếp tục tìm thêm các bản Kiều Nôm cổ, thảo luận thêm về các trường hợp phiên âm, chọn âm, chọn chữ... trong tính hệ thống của văn bản, trong mối liên hệ lớp tấng sâu xa với ngữ âm, ngữ pháp, ý nghĩa, với câu trúc thi pháp văn bản... là một việc vẫn phải tiếp tục lâu dài. Đây là một ngành học uyên bác, dày công, liên ngành, xuyên ngành, một ngành học mà chỉ soi tìm một chữ thôi đã phải tốn cả một đời học vấn và tâm trí.
Ông Nguyễn Quảng Tuân đã qua tận Paris, vào Thư viện Liên trường Đại học Ngôn ngữ Đông phương (Bibliothèque Interuniversitaire des Langues Orientales), tìm cho kỳ được bản Nôm được xem là cổ nhất hiện giờ còn lưu giữ ở đó - bản Liễu 1871, đời Tự Đức thứ 24.
Ông cũng đã có lần sang tận "xứ sương mù" để tìm cho được một bản Kiều Nôm cổ chép tay năm 1894, có chú thích và minh hoạ rất đẹp mà Thư viện Anh quốc (The British Library) đã mua được ở một tiệm bán đồ cổ ở Luân Đôn với giá rất đắt.
Ông còn qua Hoa Kỳ tìm bản Kinh, bản Đoạn trường tân thanh chép tay năm 1870 của Lâm Noạ Phu và lại qua Trung Quốc theo bước đường lưu lạc của nàng Kiều từ Bắc Kinh về tới Hàng châu - sông Tiền Đường... để mà yêu thêm, hiểu thêm cái hồn của chữ nghĩa Truyện Kiều.
Thật là:
Biết bao công mướn của thuê "Quê người" mấy độ đi về dặm khơi.
Người ta nói: Thư trung hữu nữ nhan như ngọc, cô Kiều tài sắc mặn mà đến thế nào mà còn làm "luỵ" được người đến thế.
Nhà ông còn tàng trữ nhiều tư liệu nghiên cứu quí hiếm, đặc biệt là có gần đủ hết tất cả các bản Kiều nôm và quốc ngữ. Ông Tập Kiều, Vịnh Kiều làm thơ Đường luật, viết Hát nói về những lịch lãm trong cuộc đời.
Công việc sưu tầm, nghiên cứu là việc của cả học giới; thành tựu của riêng ông có cống hiến đáng kể và có thể còn giới hạn là điều hiển nhiên, nhưng tấm lòng ấy, sự nỗ lực ấy cho văn hoá dân tộc thật đáng trân trọng.
Người thủ thư, một phụ nữ Pháp, ở Thư viện Paris thấy có một người Việt Nam cả tháng đều đặn đến đọc những cuốn sách cổ có chữ tượng hình rất ít người mượn đọc, một hôm đã hỏi ông Tuân: — Ai tài trợ cho ông đi đọc những cuốn sách này? Ông Tuân đã trả lời: — Nhà tôi (Ma femme)
Vì vậy, khi giở những trang Kiều phiên âm và khảo dị, đọc những nhận xét về bản Kiều Nôm cổ ấy sau đây, mong các bạn hãy hiểu cho tấc lòng của người đã gửi lòng yêu say đắm của mình vào từng chữ, từng câu của áng văn thiên thu tuyệt diệu.

Kiều 1872 
Tư liệu Truyện Kiều: Bản Duy Minh Thị Nguyễn Tài Cẩn (Moskva) Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội (2002)
Trong số các bản Kiều Nôm cổ, bản Duy Minh Thị có một vị trí riêng biệt. Kể về năm in thì đó là một trong hai bản cổ nhất hiện biết: nó khắc in năm 1872, tức một năm sau bản Liễu Văn Đường.

  1. Nhưng bản Duy Minh Thị khi khắc ván mới (tân thuyên) đã nói rõ khắc để trùng san một văn bản cổ. Căn cứ vào các hiện tượng kị huý có thể phỏng đoán đây là một văn bản được biên tập trong khoảng 30 năm đầu thế kỷ 19, từ đầu đời Gia long đến đầu đời Minh mạng, nghĩa là trong khoảng cụ Nguyễn Du còn sống. Cụ Hoàng Xuân Hãn là người đầu tiên đã đi sâu vào bản này và cụ đã đánh giá nó rất cao. Theo cụ, đây là một bản Nôm rất quí, có thể giúp ích nhiểu trong việc dò tìm nguyên tác và trong việc theo dõi lịch sử diễn biến của văn bản truyện Kiều (tạp chí Văn học số 3/1997).



  2. Nhưng theo chỗ chúng tôi được biết, bản Duy Minh Thị 1872 hiện không có ở các thư viện quốc gia trung ương và địa phương. Nó chỉ còn được lưu giữ ở thư viện Leiden, Hà Lan (Kí hiệu số Nr.5803-6) và thư viện riêng của Cụ Hoàng Xuân Hãn ở Paris. Đó là một điều rất thiệt thòi cho giới nghiên cứu Văn học, Ngữ ngôn và Hán Nôm ở trong nước.

  3. Đứng trước tình hình đó, chúng tôi nghĩ rằng cần phải tìm cách để công bố bản Kiều Nôm này. Anh Lê Sơn Thanh, một học trò cũ của cụ Hoàng Xuân Hãn, và hiện là một nhà nghiên cứu làm việc ở trường Viễn Đông Bác cổ Pháp (tại Paris) đã chí tình giúp đỡ chúng tôi để có được bản ấn ảnh: in từ bản lưu giữ ở thư viện riêng của gia đình thầy. Là người đang đi sâu nghiên cứu về nhóm Duy Minh Thị, anh cũng đã có nhã ý cung cấp và cho sử dụng một số tư liệu rút từ hồ sơ riêng của anh. Chúng tôi xin bày tỏ ở đây lời chân thành cảm tạ của chúng tôi.

  4. Cái quý giá nhất là văn bản Nôm. Nhưng để giúp cho đông đảo bạn đọc, cũng như để dọn đường trước cho giới nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành phiên Nôm và trình bày văn bản dưới dạng đối chiếu: mỗi trang Nôm có một trang Quốc ngữ bên cạnh.



    Trong quá trình phiên Nôm, chúng tôi đã so sánh với một bản Kiêu hiện đại - bản cụ Đào Duy Anh công bố cuối cuốn Từ điển Truyện Kiều của cụ, in năm 1974. Nhưng chỗ từ ngữ bản Duy Minh Thị khác bản Đào Duy Anh chúng tôi đều cho in chữ hoa. Nhưng chỗ chúng tôi thấy cần nêu nhận xét hay cần trao đổi, tranh thủ ý kiến của giới nghiên cứu chúng tôi đều cho in chữ đậm.
    Có được một bản in như vậy, bạn đọc chỉ cần lướt qua là đã có thể thấy nổi lên ngay những điểm riêng biệt của bản Duy Minh Thị, cũng như những điểm quan trọng cần chú ý tìm hiểu tiếp.



  5. Trước phân chính - phần II - trình bày đối chiếu văn bản Quốc ngữ - văn bản Nôm chúng tôi có một phần, giới thiệu “vài nét sơ lược về bản DMT/1872; còn sau phần chính là phần III, trình bày khoảng 1.000 nhận xét về các vấn đề chữ nghĩa trong bản Kiều Nôm cổ này.

  6. Trước khi đưa in, cuốn sách này đã được Ban biên tập Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội đọc, góp ý, và đặc cử chị Hà Thị Tuệ Thành thường xuyên liên hệ với tác giả, tham gia rà xét mọi mặt để năng cao chất lượng bản thảo. Nhân đây chúng tôi cũng xin được biểu lộ lòng tri ân của chúng tôi.

Kiều 1902
Bản Kiều Oánh Mậu Sưu tầm, khảo chú & chế bản Nôm: Nguyễn Thế & Phan Anh Dũng Hiệu đính chữ Nôm: Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Đình Thảng. Nxb Thuận Hoá — Huế 2004
Nguyên bản truyện Kiều chữ Nôm này là bản in khắc Đoạn trường tân thanh, Giá Sơn Kiều Oánh Mậu chú giải, Thành Thái Nhâm Dần trung thu vọng (1902), được chụp ảnh in lại trong Tổng tập Văn học Việt Nam tập 12 (TTVH 12), bản này thường được gọi ngắn gọn là bản Kiều Oánh Mậu (KOM). Đây là bản in khắc đẹp nhất, chữ Nôm viết khá quy phạm và có ý thức chuẩn hoá, phần giới thiệu và chú giải công phu, những người chấp bút tham dự đề từ, bình giải đều là các bậc khoa bảng danh tiếng đương thời. Được TTVH 12 đánh giá là một trong hai bản có giá trị khoa học cao nhất (bản kia là bản Kim Vân Kiều tân tập do nhóm Thời Hiền Thi Tự của Chu Mạnh Trinh khắc in năm 1906, thường gọi là bản Quan Văn Đường (viết tắt là QVĐ). Bản KOM đã được TTVH 12 chọn lựa để chụp in lại, và làm cơ sở để khảo chú. Bản này do Giá Sơn Kiều Oánh mậu (1853-1912), đậu Phó bảng đời Tự Đức (Canh Thìn - 1880), dựa trên bản Kinh của Đình nguyên Đào Nguyên Phổ đem từ Huế ra tặng cùng tham chiếu các bản Phường (các bản khắc in dân gian ở phường Hàng Gai, Hà Nội) và các bản sao tư gia mà soạn lại. Nhiều người cho đây là bản Kinh thực ra không đúng hẳn.
Bản Truyện Kiều gốc in lần đầu là do Nguyễn Du giao cho Phạm Quý Thích khắc in ở Hà Nội, nên các bản Phường vẫn được tiếng là gần nguyên bản, nhưng thực ra tam sao thất bản khá nhiều. Nhận xét đại thể thì thấy các bản Phường theo rất sát ngữ âm miền Bắc, hầu như không thấy có tiếng Nghệ, do đó nên đặt nghi vấn phải chăng Phạm Quý Thích có sửa chữa ít nhiều chứ không phải in đúng y như chính bản của Nguyễn Du giao. Như thế tiêu chí cho cổ bản (các bản Phường cổ) là gần nguyên tác hơn cận bản (bản Kinh, bản KOM... ) e không chắc, lại thêm một lẽ là bản gia truyền của dòng họ Nguyễn Du do Phạm Kim Chi phiên Quốc ngữ (1917) nhiều chỗ thấy gần Kinh bản hơn là Phường bản.
Khi chú dị bản chúng tôi chủ yếu so sánh với bản Quốc ngữ Truyện Kiều của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo (do NXB Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh in lại 1999, sau sẽ viết tắt là B-T) vì đây là bản được in nhiều, phổ biến sớm và rộng từ khoảng những năm 20 của thế kỷ này, phần chú giải ngắn gọn và dễ hiểu, có điều là chế bản Quốc ngữ sai nhiều chỗ. Do chúng tôi mong muốn giới thiệu nội dung bản Kiều Nôm này với đông đảo bạn đọc chứ không muốn bó hẹp trong giới nghiên cứu chuyên sâu về Hán Nôm, nên đã chủ ý chọn bản B-T để so sánh dị bản (vì các bản Quốc ngữ khác đều theo gần sát bản B-T). Sự sai khác dị bản chủ yếu là giữa hệ Kinh bản và hệ Phường bản. Bản KOM bị quy là Kinh bản thực ra chỉ theo bản Kinh khoảng 21 câu trong số khoảng 150 câu bản Kinh khác bản Phường (thống kê của TTVH 12). TTVH 12 đánh giá là bản B-T bị ảnh hưởng nhiều từ bản KOM, thực ra B-T chỉ theo những câu chữ ĐÚNG hơn rõ ràng, còn nếu không gì hơn gì nhau thì lại thấy là B-T trung thành với câu chữ bản Phường, những chỗ dị bản so với KOM hầu hết là của các bản Phường, mà bản QVĐ là tiêu biểu. Tuy các bản khác nhau không ít nhưng phần nhiều khác nhau ở hư từ, từ đồng nghĩa, hay là đảo thứ tự chữ, các trường hợp khác hẳn nghĩa thực ra không nhiều.
Chúng tôi chủ ý giới thiệu phần khảo chú dị bản và chú giải từ ngữ sao cho ngắn gọn, tránh biến cuốn sách này thành một tác phẩm chuyên khảo. Phần chú giải và chú dị bản được đánh số liên tục, các chữ có dị bản được in nghiêng. Chữ Quốc ngữ được chế bản dạng bình thường nhằm cho nhiều người đọc như đã định hướng ở trên, chứ không xếp ngang dưới chữ Nôm và cũng không ép câu Quốc ngữ và Nôm phải ở trên cùng một trang.
Nhờ các học giả, các nhà nghiên cứu đã dày công khảo định, chú giải, phiên âm rất công phu, nên công việc của chúng tôi gặp nhiều thuận lợi. Đồng thời chúng tôi đã cố gắng khảo thật kỹ bản Nôm KOM nên cũng tìm được đôi chỗ người trước phiên âm chưa sát. Ví dụ câu 2364, các sách đều phiên "Càng cay (ଚE;) nghiệt lắm càng oan trái nhiều"; câu 1431 "Một sân lầm cát đã đầy ( )" thực tế bản KOM là "Một sân lầm cát dã dày ( )"... Ngoài ra chúng tôi có chủ ý tìm thêm các sách đọc khác với người trước, mục đích cũng để bạn đọc rộng đường đánh giá thưởng thức, nên cách đọc khác dù không được hay nhưng nếu không quá vô nghĩa thì cũng ghi chú. Với sự hiểu biết có hạn, nên chúng tôi chỉ xin được đóng góp thêm một đầu sách nghiên cứu về Truyện Kiều thiên về mặt văn bản học hơn là việc khảo chú văn nghĩa, chắc chắn sẽ gặp nhiều thiếu sót mong được các bậc thức giả và bạn đọc bổ khuyết.
Web nguon: Nôm Foundation  http://nomfoundation.org/vnpf/nfkieu.php?IDcat=151

12- Hoàng Xuân Hãn, nghiên cứu Kiều - Thụy Khuê

 Thụy Khuê
 Hoàng Xuân Hãn, nghiên cứu Kiều

 


Thụy Khuê : Thưa bác, xin bác nói về công việc nghiên cứu Kiều của bác từ 50 năm nay.
Hoàng Xuân Hãn: Công việc nghiên cứu Kiều của tôi là từ lúc đầu. Tôi về bên nhà năm 1936, thì độ 37, 38, tôi đã nghĩ đến tìm kiếm tài liệu. Nhưng đến năm 1945, tôi mới thực sự bắt đầu làm việc. Tôi đương còn nhớ, hôm đầu tiên đánh nhau ở Hà Nội, người ta bắt tôi vào Hỏa Lò. Tôi có nói với họ: Tôi có thể mang bản Kiều vào để làm việc được không? Họ để tôi mang vào. Tức là khi ấy tôi đã có bản Kiều rồi. Rồi từ lúc ấy đến bây giờ, tôi vẫn tiếp tục công việc. Mà công việc của tôi không phải để chú thích Kiều như phần lớn họ làm từ trước đến giờ, nghĩa là người ta nghĩ đến chuyện giảng Kiều hơn là nghiên cứu Kiều.
Nghiên cứu của mình trước đây là giảng nghĩa, tức là công việc của một thầy giáo tiểu học, trung học, cũng như đại học. Ở trình độ nào thì cũng thầy giảng, giảng một ngày một sâu lên, nhưng cũng là giảng học cả. Vậy nghiên cứu Kiều là nghĩa thế nào? Mình ở thế kỷ này, cách lúc cụ Nguyễn Du viết đã gần 200 năm, thì vấn đề nghiên cứu cốt thiết nhất là bản Kiều hiện bây giờ mình đọc, có phải là lời của cụ Nguyễn Du viết ra như thế cả không? Hay là đã bị sửa chữa nhiều bởi vì tục của người Việt Nam ta, cũng như người Tầu, là không có nguyên bản khi nào cả. Một bản ra thì rồi ai đọc, thích thế nào, chữa thế ấy, đến lúc viết lại hay đưa ra khắc, thì khắc lời của người đã chữa rồi chứ không phải là của nguyên bản.
Nước mình là một nước hủy hoại văn bản hết sức, vì khí hậu, vì chiến tranh, vì lòng người không biết trọng cái xưa. Chỉ còn cách là tìm được bản nào xưa nhất, đó là việc đầu tiên.
Cái thứ hai là so sánh với bản gốc, nguyên truyện của Trung Quốc; nếu cái bản xưa gần bản chính của Trung Quốc chừng nào thì là xưa chừng ấy.
Cái thứ ba là những tục truyền gì ở xung quanh con người Nguyễn Du, về làng nước, bạn bè: Tôi để ý về những chuyện ấy.
Cái thứ tư nữa là có bản Nôm mà không biết đọc bản Nôm, nhiều khi đọc sai, mất nghĩa hoặc không có nghĩa gì. Vì chữ Nôm, tôi nghiên cứu nhiều, tôi cũng quen lắm, thành ra tôi đoán được nhiều cái hồi trước không đọc được hoặc đọc sai.
Cuối cùng tôi thấy trong những bản còn lại, có một bản hội đủ điều kiện để mình tái lập phần lớn văn Kiều đời xưa, có thể nói là nguyên lời Nguyễn Du, chứ không phải là nguyên bản bởi vì nguyên bản không tìm ra được nữa.
Tôi so sánh văn bên trong, những lời, những chữ bên trong, những tiểu từ, có một vài chỗ, chứ không nhiều đâu, gần với bản chính -truyện Tàu-, thì mình thấy rõ ràng là người viết bản ấy, có bản chữ nho bên cạnh để họ dịch thẳng ra tiếng Việt. Sau này, họ thấy như thế thì không ổn, hay bởi vì trái với thời thượng, hay là vì gì đấy, thì họ chữa lại cho êm tai hơn.
Sau nữa, cụ Nguyễn Du tuy ở Bắc nhiều -mẹ người Bắc- nhưng cái gốc Nghệ cũng không khỏi được. Cho nên tiếng Nghệ instinctivement tự nhiên cụ viết ra; nhiều khi cụ viết ra những tiếng dùng ở Nghệ chứ ở Bắc người ta ít dùng lắm. Tuy phần lớn văn Kiều là tiếng Bắc đấy, nhưng có những tiếng như thế; tôi là người Nghệ An tôi thấy rõ chuyện ấy hơn người khác nhiều. Thế đến gia đình, có những chuyện, có nhẽ trong gia đình họ Nguyễn ở Tiên Điền, họ nói một cách khác ở ngoài, thì ở trong ấy mình thấy, sau này ra ngoài họ chữa thành tiếng thông dụng của mọi nơi. 
Thêm một chuyện -có thể nói là can hệ lắm- là hồi ấy (năm 42, 43) tôi nghỉ hè ở quê được 3, 4 tuần, thành ra tôi vào Tiên Điền. Họ cụ Nguyễn Du, lúc ấy chỉ còn một người tai mắt là ông nghè Nguyễn Mai, gọi là ông nghè Mai, trước là bạn học với cha tôi, cho nên cha tôi vào thăm thì nhân dịp ấy tôi vào theo. Tôi nói chuyện lâu lắm, tôi hỏi thì biết rằng từ trước đến giờ, người ta vào đấy tìm ông Nguyễn Mai nhiều, hoặc là tìm bạn cũ, hoặc nói là tìm bản cũ của cụ Nguyễn Du. Cái lối các cụ ngày xưa, người ta hỏi cái gì thì trả lời chóng vánh cho khỏi lôi thôi, thì cụ cứ ừ hết cả. Thành ra cụ có cho người này bản này, người kia bản kia, người nào cũng tưởng là bản của cụ Nguyễn Du cả. Mà sự thực không phải thế. Nhưng mà có một bản tôi gọi là bản Tiên Điền thì đúng hơn. 
Trong Tiên Điền, có một bản cũ, không biết là chép lại từ đời nào. Bản ấy, xét ra -tôi không có trong tay hiện giờ, nhưng tôi có một vài mẫu- hơi giống bản của ông Đào Nguyên Phổ đưa về Bắc rồi ông Kiều Oánh Mậu in ra gọi là Đoạn Trường Tân Thanh. Bản Đoạn Trường Tân Thanh ấy là bản gần -nguyên bản- đấy, nhưng cũng không phải là bản gần nhất đâu. Tôi có bản gần hơn.
 



Thụy Khuê: Bác nói lại tên cụ đưa văn bản Đoạn Trường Tân Thanh về Bắc.
Hoàng Xuân Hãn: Cụ tên là Đào Nguyên Phổ, người ở Thái Bình, thân sinh ra ông Đào Trinh Nhất. Cụ đậu hoàng giáp cuối đời Thành Thái, khoảng 1899. Những người nghiên cứu về Kiều đều biết cụ. Cụ đưa bản ấy về Bắc cho ông Kiều Oánh Mậu. Không biết ông Kiều Oánh Mậu có thêm thắt gì không. Bây giờ có bản Nôm gọi là bản Kiều Oánh Mậu, đề là Đoạn Trường Tân Thanh, chứ không phải Kim Vân Kiều. 
Ngoài ra, trong các bản viết, bản in mà tôi thu thập lại được thì phải nói rằng không có bản in nào xưa hơn cuối đời Tự Đức cả, tức là khoảng 1870. Thế còn bản viết thì cũng có bản chép lại sau, cũng có bản xưa, có thể là xưa hơn bản in, nhưng cũng không lấy gì làm chắc. Nhưng tôi cốt dựa vào sự truyền bá truyện Kiều ở trong nước ta. Xét về cách truyền bá ở Bắc, ở Trung, ở Nam, rồi so sánh ba sự truyền bá ấy với thời gian truyền bá để xét chỗ khác nhau và khám phá ra những cái người ta thêm vào. Trong các bản, có một bản ở trong Nam thấy đương còn những dấu vết hoàn toàn đời Gia Long. Không có đời Minh Mạng. Thì mình chắc chắn bản ấy người ta sao lại một bản từ đời Gia Long.
 



Thụy Khuê: Bản này bác khám phá ra hồi nào ạ?
Hoàng Xuân Hãn: Từ hồi đầu trước, khoảng 42-43, tôi đã thấy rồi. Nhưng không ai để ý tới vì bản ấy có nhiều sai lầm, nhưng qua cái sai lầm một cách giản dị mà mình lại chữa được một cách chắc chắn. Còn những bản khác, người ta sửa lại mà sửa một cách khôn ngoan, thì không thể đoán được, hoặc là có thể đoán được nhưng mà khó đoán lắm.
 



Thụy Khuê: Thưa bác, đấy là một bản chép tay?
Hoàng Xuân Hãn: Hiện bây giờ có bản in, nhưng in sai rất nhiều, cho nên không mấy người để ý tới. Nhiều khi người ta cho là bản một người dốt chép lại, không ai để ý. Nhưng sự thực bản ấy là bản quý nhất. Tôi chắc chắn với sự suy xét ấy, tôi thấy không những là về mặt niên đại, về chữ húy của mình, chỉ có húy đời Gia Long, không húy đời Minh Mạng, thì biết rằng bản viết người ta theo đó để mà sao lại, chắc chắn đầu đời Gia Long. Nhưng bây giờ lại từ đó muốn suy ra niên đại cụ Nguyễn Du viết Kiều vào khoảng nào? Chỗ này thì không có cách khảo sát dễ dàng đâu. Đến gia phả ở Tiên Điền cũng nói rằng khi cụ Nguyễn Du đi sứ, có mang truyện Kiều về, cho nên cụ viết quyển Kiều tiếng Việt. Cái ấy là lầm. Chắc chắn là lầm. Bởi vì cụ Nguyễn Du đi sứ vào khoảng 1814, 1815, tại sao mà biết là lầm? 

Vì tôi thấy rằng bản ở Huế còn lại, rồi sau ông Đào Nguyên Phổ mang về Bắc, ông Kiều Oánh Mậu in ra gọi là Đoạn Trường Tân Thanh, trong bản ấy có những lời phê bình của hai người là ông Vũ Trinh  và ông Nguyễn Thành , hai người bạn của cụ Nguyễn Du. Nhưng hai người bạn ấy, chỉ có thể là bạn trong cái đời trốn tránh Tây Sơn. Sự phê bình có phần chắc là đời Tây Sơn, trước đời Gia Long nữa. Cái thứ hai nữa là ông Vũ Trinh sống lâu, nhưng ông đã bị tội trong đời Gia Long rồi, bị tội vì Nguyễn Văn Thành, ông là thầy dậy học con Nguyễn Văn Thành, rồi người con Nguyễn Văn Thành bị xử tử, ông ấy bị đầy vào Quảng Nam, không được về quê cho đến đời Minh Mạng mới được tha về.
Nhưng ông Nguyễn Thành, trái lại, chết đời Gia Long, trong một trận đánh giặc. Về đời Gia Long, người ta nổi loạn chống lại nhà Nguyễn bởi vì muốn phục hồi con cháu nhà Lê, cho nên rất nhiều loạn. Ông Nguyễn Thành là tri phủ, hình như tri phủ Yên Trường, tức là vùng Ninh Bình bây giờ, bị chết vào độ 1807 thì phải, nếu tôi nhớ không lầm. Vì có sự phê bình của các ông ấy thì biết rằng truyện Kiều được viết đầu đời Gia Long hoặc trước đời Gia Long. Tôi chắc cũng không phải đời Gia Long, bởi vì đời Gia Long, cụ Nguyễn Du đã bị gọi ra làm quan, tri phủ Thường Tín hay tri phủ gì ở ngoài Bắc  về. Lúc đã ra làm quan rồi thì không có thì giờ ngồi viết Kiều.

Còn một chứng nữa, rất lớn, cũng không mấy người để ý tới: Cụ Phạm Quý Thích , người đề thơ đầu tiên về Kiều, còn để lại nhiều tập thơ. Có một tập cụ kể chuyện đi từ Bắc vào Huế, vì vua Gia Long mời cụ ra làm quan. Lần đầu vào Huế, cụ làm thơ vịnh những xứ sở đã đi qua.
Khi cụ tới Quảng Trị, chỗ gọi là Liên Hồ (Hồ Sen), cách độ một ngày thì tới Huế, cụ làm một bài thơ gọi là đề từ quyển Kiều , Đoạn Trường Tân Thanh  đấy. "Giai nhân bất thị náo Tiền Đường!" Do đấy thì biết rằng cụ có bản Nôm Kiều ở trong tay năm ấy, tôi nhớ như đầu đời Gia Long, năm 1805-1806  quãng ấy. Rồi cụ mang đi đường để đọc, từ ngoài Bắc vào Huế, hồi xưa đi đến gần 15 ngày, phần nhiều các cụ đi cáng, đoạn nào có thể đi thuyền được thì đi thuyền, phần lớn đi bộ chóng hơn, cụ đi cáng. Cụ nằm trong cáng đọc quyển Kiều, chắc đến Quảng Trị đọc xong, cụ làm bài thơ đề từ quyển Kiều ấy. Cho nên mình biết rằng quyển Kiều có trước đời ấy khá lâu, trước khi cụ Nguyễn Du đi sứ về. Những cớ ấy là chứng chắc chắn quyển Kiều làm từ trước.
Chuyện thứ hai nữa, theo lời truyền tụng chính ở xứ Nghệ, hồi nhỏ các cụ tôi kể chuyện lại là lúc cụ đương hàn vi, cụ viết truyện Kiều, họ kể rằng cụ chỉ viết một đêm là xong. Viết xong rồi, sáng dậy cụ bạc đầu. Chuyện bạc đầu thì sự thực có nhẽ cụ bạc đầu lúc 30 tuổi. Trong thơ, cụ có chừng 20 bài thơ luôn luôn nói chuyện bạc đầu. Cái ấy thì chắc chắn.
Hơn nữa, trong Kiều có mấy câu đầu, ít người để ý tới:



Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau



Hai câu ấy có thể nói gần như là hai câu sáo, không kể; nhưng câu dưới:



Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy đã đau đớn lòng



sau này có bản chữa lại là mà đau đớn lòng. Thực ra là đã đau đớn lòng. Hai câu ấy, cụ nói rằng: Trải qua một cuộc bể dâu, một chứ không phải hai hay nhiều cuộc bể dâu đâu nhé! Những điều cụ trông thấy đã đau đớn lòng. Trong truyện Tàu, không có chuyện bể dâu gì cả. Không có sự thay đổi gì cả. Đó là một histoire sociale  bên Trung Quốc, đời nhà Minh. Lúc ấy dân tình khổ vì các quan chia nhau ra Tây xưởng, Đông xưởng, tụi hoạn quan nó... có thể nói là anh nào cũng ăn đút lót, từ trên chí dưới, bịa ra những tội lỗi cho dân để lấy tiền. Hồi ấy là thế cả. Không phải là cuộc bể dâu. Đời nhà Minh vẫn êm thắm, không có gì cả.
Vậy cuộc bể dâu ấy là gì? Tức là Tây Sơn phá Trịnh với Lê và cụ, tức là cái họ của cụ không biết bao nhiêu người làm quan đầu triều hết cả -thượng thư đầu triều hay là đương còn trẻ, văn học rất nổi tiếng, trong họ của cụ có hàng chục người như thế-. Một cuộc bể dâu mà Tây Sơn đánh đổ Lê Trịnh là làm đổ hết cả họ về mọi mặt ở Tiên Điền. Cho nên những điều trông thấy đấy làm cụ đau đớn lòng. Theo đấy, với những lẽ suy khác thì nghĩ rằng cụ viết đời Tây Sơn chứ không phải đời Gia Long. Đấy là về thời gian viết.
 



Thụy Khuê: Thưa bác, Cụ Nguyễn Du đã viết truyện Kiều như thế nào? Cụ viết theo nguyên bản, hay từ nguyên bản cụ phóng tác ra một truyện khác?
Hoàng Xuân Hãn: Cụ có một bản chữ Hán, cụ đọc rồi cụ cảm, vì truyện không phải là giống nhưng mà gợi ý suy đồi của họ Nguyễn Tiên Điền sau cuộc bể dâu ấy. Cụ cảm cho nên cụ bắt đầu kể lại chuyện ấy cho cụ, chứ không phải là cho người khác. Cho cụ, bởi vì cụ là nhà thơ, cuối đời Trịnh, đầu Nguyễn là thời kỳ văn quốc ngữ, văn Việt Nam cực kỳ thịnh. Có những người sau này nói rằng vì Tây Sơn, lúc ấy văn Việt Nam mới nổi lên. Không đúng đâu. Tiếng quốc ngữ được nổi lên có nhẽ từ thế kỷ XVII, cho đến đời Minh Mạng. Quãng ấy là quãng thịnh nhất. Sau Minh Mạng cũng đã non đi rồi. Cho nên những bài như Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm, với những văn của Nguyễn Huy Lãng, bài Tây Hồ phú... vào cái khoảng đời ấy hết cả. Lúc ấy có thể nói có một trường phái điêu luyện về đường văn thái, văn kêu, văn hay... Cụ Nguyễn Du là vào cái phái ấy. Một bên tâm tình cụ bị cảm xúc, một bên văn tiếng Việt lúc ấy rất nổi, cho nên nhân dịp ấy, cụ viết ra quốc ngữ. Viết cũng không phải như người khác kể chuyện, mà là sự kể chuyện của người văn thơ rất hay. Cho nên người nào đọc cũng thấy một cạnh khía làm cho mình cảm động hết cả, từ đàn bà, trẻ em, đến người học cao sâu.
Thế còn ai mang quyển sách ấy về? Theo tôi, trong ấy có hai người. Một là anh ruột cụ Nguyễn Du là Nguyễn Đề , theo Tây Sơn từ lúc đầu. Ngô Thì Nhậm đưa ra thì cụ nhận liền, giúp các công văn từ lúc đầu giao thiệp với nhà Thanh, rồi cụ được đi sứ sang Thanh. Lúc về, cụ mang theo quyển Kiều vào khoảng đầu đời Quang Trung, 1792-93. Hai là người anh rể của cụ Nguyễn Du, tên là Đoàn Nguyễn Tuấn , con ông Đoàn Nguyễn Thục, người Quỳnh Lôi, hồi ấy ở phủ Thái Bình. Cụ Nguyễn Du là con rể cụ Đoàn Nguyễn Thục. Cụ này cũng đậu tiến sĩ, làm quan đến thượng thư đời Lê Trịnh, có nhiều con, trong những người con ấy, có Đoàn Nguyễn Tuấn hiệu là Hải Ông, cũng theo Tây Sơn từ lúc đầu với Nguyễn Đề và Ngô Thì Nhậm, rồi cũng đi sứ về. Cụ Nguyễn Du, thời kỳ ấy còn ít tuổi nhưng đã hiểu biết rồi, và lúc ở nhà người anh là ông Nguyễn Đề, ở Hà Nội, không làm gì, chính lúc ấy gian díu với Hồ Xuân Hương . Rồi ít lâu, cụ ra mặt không bằng lòng với Tây Sơn thì cụ cũng sợ liên lụy đến người anh, cho nên cụ về quê, ở nhà người anh rể ở Thái Bình khá lâu, cụ làm những bài thơ chữ Hán. Trong Bắc Hành Thi Tập vừa có thơ đi sứ, nhưng có một đoạn, nhiều bài viết ở Bắc Kỳ trong thời gian lưu lạc ở nhà quê. Người anh rể, Đoàn Nguyễn Tuấn, cũng có thể mang quyển Kiều chữ Hán về, rồi cụ thấy quyển Kiều ấy ở nhà người anh rể mà viết ra.
 



Thụy Khuê: Thưa bác, xin bác nói về quyển Kiều chữ Hán.
Hoàng Xuân Hãn: Truyện Kiều chữ Hán thì gốc tích bây giờ cũng biết rõ ràng. Trong Minh sử, đời Gia Tĩnh, có Từ Hải thực, một người giặc, và Hồ Tôn Hiến, ông quan dẹp giặc. Ta cũng biết rõ rằng Từ Hải là người bất kham, không chịu lệnh triều đình, muốn chiếm một vùng dọc biển hoặc các hải đảo để tự trị, tự do. Muốn làm thế thì phải gian díu với một tụi giặc thực, giặc bể, người Nhật Bổn, vào cướp đất Trung Quốc. Từ Hải có lúc cũng trốn, vì mang tiếng là giặc, vào đi tu thành thầy tu. Nhưng thầy tu vẫn đi chơi. Đi chơi cô đầu, gặp Kiều ở nhà cô đầu, tên là Mã Kiều vì tưởng là con gái họ Mã. Rồi Từ Hải lấy người ấy. Trong sử chép rõ ràng là Hồ Tôn Hiến được lệnh đi dẹp đám Từ Hải-Vương Trực. Vương Trực làm chủ, còn Từ Hải chỉ là một tay phụ mà thôi. Muốn dẹp bọn này, Hồ Tôn Hiến dùng kế đàn bà tức là dùng Kiều. Nhưng tên Kiều thì trong sử không nói tới. Trong sử chỉ nói là dùng người đàn bà. Đến lúc Từ Hải đã chịu thần phục nhà vua thì quân Hồ Tôn Hiến lại lừa, đánh úp, Từ Hải nhẩy xuống biển tự tử. Nói là tự tử với hai người vợ cùng nhảy xuống biển. Hai người vợ chứ không phải một đâu. Sự thực là thế, cuối cùng Kiều cũng tự tử với Từ Hải chứ không như chuyện trong tiểu thuyết. Rồi cái tiếng Kiều đời ấy chắc là to lắm, cho nên nhiều người đặt ra chuyện. Trước truyện Kiều, có một hai truyện ngắn, có thể nói là đoản thiên tiểu thuyết, về một người con gái Bắc Kinh, bị Tú Bà bắt cóc, nhận làm con gái gọi là Mã Kiều. Rồi Từ Hải lấy Mã Kiều. Cuối cùng thì tự tử với Từ Hải.
Đến Thanh Tâm Tài Nhân, người viết truyện dài quãng cuối nhà Minh, đầu nhà Thanh, khoảng đầu thế kỷ XVII. Viết xong giao cho Thánh Thán. Thánh Thán là một văn sĩ giỏi mà lại biết phê bình, biết khắc ván để hoàn thành tiểu thuyết mà bán. Cho nên họ gọi là bản Thánh Thán  là vì thế. Về Thanh Tâm Tài Nhân, hình như Thanh Tâm Tài Nhân có đề tựa và viết những chuyện khác nữa.
Đó cũng là những chuyện thực hết cả.
Bản Kiều ấy, tung bán khắp nơi rồi cũng bị sửa chữa. Tầu cũng như ta, có nhiều người đọc rồi sửa chữa lại văn. Hiện giờ có đến ba, bốn bản khắc. Mắt tôi được thấy bản Thánh Thán là một bản. Một bản tôi thấy ở Bristish Museum, văn hơi khác. Cách đây độ mươi năm, có người thấy ở trong thư viện, một thành phố rất nhỏ, thuộc đất nhượng địa cũ cho Đức, tôi không nhớ tên, gần Shantung, trong đó có nhiều tiểu thuyết cuối đời Minh, đầu đời Thanh, họ lấy ra và in ra. Nhà in ở Bắc, tên gọi là Xuân Phong , bản ấy tôi cũng mua được ở Paris đây. Và bên Nga, bên gì họ dùng bản ấy hết cả.
 



Thụy Khuê: Thưa bác, về văn học thì cuốn tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân có giá trị như thế nào?
Hoàng Xuân Hãn: Đối với tôi, đối với người bây giờ thì có giá trị to. Vì người Tầu khi xưa viết tiểu thuyết, họ đi vào sự tỉ mỉ đương thời rất lớn. Cho nên qua một quyển tiểu thuyết là có thể biết rõ phong tục cả một đời. Họ viết kỹ càng cũng như Balzac. Mình thì mình quý. Nhưng với các nhà nho, hay người Tầu hiện giờ, những người có học thì chê viết tỉ mỉ dông dài. Trong ấy cũng có thơ nhiều lắm, thỉnh thoảng xen lẫn vận văn. Thơ không phải là lối thơ cử nghiệp. Nên những người học về lối cử nghiệp cho là thơ trong ấy non. Nhưng phải hiểu rằng người ta cốt viết cho dân gian. Thành ra quyển sách ấy là một roman populaire, nghĩa là viết gần như bạch thoại. Thơ nói. Chứ không phải là văn. Cái giá trị, đối với mình, về nội dung, tôi cho là rất quý.
Còn về đường văn thái thì tùy, đứng về phương diện một người học cử nghiệp hay là phương diện văn học dân gian, người cho là hay, người cho là dở. Người Trung Quốc hiện giờ thì họ cho là tầm thường, vì văn trong ấy tầm thường. Cho nên họ ngạc nhiên tại sao Việt Nam, lại lấy quyển roman Tầu không phải hay nhất, dịch ra để làm một thứ như là quốc tuý. Trong commentaire  của Tầu, nhiều người nói như thế.
 



Thụy Khuê: Thưa bác, cụ Nguyễn Du đã làm việc như thế nào, cụ đã viết theo nguyên văn hay là cụ thêm bớt đi?
Hoàng Xuân Hãn: Cụ Nguyễn Du có quyển ấy rồi thì cụ cứ theo trong truyện Tầu như thế nào thì cụ kể như thế. Không thêm tí nào. Nhưng cụ bỏ những cái dông dài. Là một người cử nghiệp chứ không phải là người viết roman, tự nhiên những cái dông dài, có khi thô nữa, như những đoạn chém giết nhau nhiều, hay đoạn Kiều trả thù, cụ bỏ hết chỉ nói lại một hai câu mà thôi. Trong Kiều kể rõ người kia chặt đầu thế nào, chém chân người ta thế nào, róc thịt, đọc ghê tởm lắm.
Nhưng nói thực ra, đọc roman, nó cho mình biết phong tục, cách sống đời ấy thế nào. Chẳng hạn đoạn Tú Bà dạy Kiều tiếp khách, nguyên văn nói tỉ mỉ lắm, thô tục thì không đúng, bởi vì tiếng Tầu cũng như tiếng ta, có thể nói lóng một vài chuyện thô tục... nhưng đọc cũng đủ hiểu là thời ấy, về môn ấy, người ta biết như thế nào. Nhưng những cái ấy cụ không nói, chỉ một hai chữ thôi. Có người Việt Nam sau này phụ họa chú thích Kiều, tự nhiên là phải lấy quyển Tàu ra rồi kể lại những chỗ tỉ mỉ ấy.
Hay là chuyện Thúc Sinh chuộc Kiều về. Người con gái giang hồ ở nhà điếm mà người con giai muốn chuộc ra, khó lắm, gọi là hồi lương, phải làm nhiều démarche  lắm. Tự nhiên là phải mà cả nhiều với chủ nhà điếm, phải xin quan, phải gì gì... trong chuyện chữ Hán họ cho chi tiết rất nhiều. Ví như người nào làm trung gian, người trung gian làm thế nào, đi thế nào, nói thế nào, ba bốn trương . Trong truyện Cụ Nguyễn Du, những cái ấy không còn nữa. Nhưng có vài chi tiết, cụ lấy trong Kiều, viết ra y như thế, rồi những bản Nôm sau này, người ta bỏ đi. Bởi vì lúc đời cụ Nguyễn Du, nói như thế không phạm với tập tục, nhưng từ đời Gia Long trở lại đây, thì có nhiều ý tưởng, tập tục đã đổi đi cho nên họ phải bỏ. Nhờ thế mà mình nhận thấy rằng cái bản còn giữ nguyên vẹn những chi tiết của cụ Nguyễn Du, thì bản ấy là bản đầu tiên, ít ra gần với lời cụ Nguyễn Du hơn cả.
Như trên tôi đã nói, cụ Nguyễn Du dẫu thế nào cũng là người Hà Tĩnh, tuy mẹ là người Bắc Ninh, ở ngoài Bắc nhiều, nói tiếng Bắc, nhưng thỉnh thoảng vẫn có những tiếng Nghệ, từ xưa đến bây giờ vẫn còn giữ như thế. Những tiếng dùng ở trong Nghệ thì cho là thường, mà ra tỉnh thì cho là sỗ sàng. Thí dụ hiện bây giờ trong tôi nói mặc kệ là rất thường, nhưng ở ngoài Bắc mà nói mặc kệ, thì cho là người không lịch sự. Có nhiều tiếng như thế. Trong cái bản tôi cho là xưa nhất, đương còn giữ được những lời ấy, còn những bản kia người ta đã bỏ đi rồi.
Bây giờ quyển Kiều đến tay cụ Nguyễn Du bằng cách gì? Thì đấy là một vấn đề mình đặt ra. Tôi suy nghĩ không tìm thấy chứng cớ gì, có lẽ cụ Nguyễn Du thảo ra bản Kiều, đầu tiên đưa cho anh em thân thiết lắm mới được đọc, như các ông Vũ Trinh, Lê Quýnh, vào hạng tử đệ những người làm quan đời nhà Lê, với Nguyễn Du là bạn ngang hàng với nhau. Những người bạn chống Tây Sơn, lại gần gụi nhau, trao tay nhau đọc. Rồi thấy hay thì người này chuyền người kia, đến tay cụ Phạm Quý Thích, cụ đọc.
Đời ấy một người như Phạm Quý Thích, văn học rất cao lại trọng về khoa cử, đọc một bản Nôm mà cụ thích như thế, thì lúc ấy có ảnh hưởng rất lớn.
 



Thụy Khuê: Thưa bác, rồi việc in ấn ra sao?
Hoàng Xuân Hãn: Tôi chắc cũng chưa in liền đâu, sau rồi đến tay những con buôn sách, những người ở Liễu Tràng, mấy làng khắc ván, họ thấy có văn gì hay thì khắc rồi bán, chắc cũng chẳng hỏi tác giả là ai, hay cũng không có tên tác giả... Lúc ấy có nhiều nhà khắc bán, đầu tiên có nhẽ đương còn bản cũ, nhưng đến người thứ hai, tái khắc lại, thì chỉ lấy bản mới, rồi một trương thế này, họ lật ngửa ra, họ dán vào ván gỗ mít -phần nhiều ngày xưa là gỗ hồng, những gỗ không mục- để họ khắc lại. Chính người in lại, nhiều khi lại chữa một vài chữ. Đối với các cụ, nhất là một áng văn hay như quyển Kiều, nhiều cụ nói là: "Câu này hay thực, nhưng tiếc rằng có chữ này không ổn" thì chữa lại. 
Cứ thế rồi dần dần tam sao thất bản đi. Cuối cùng, lúc tôi có dịp xét những bản in ấy, thì có chừng độ năm, sáu bản in đời Tự Đức, có nhiều chữ khác nhau. So sánh thì thấy là tuy khác nhau nhưng cũng có bản a, bản b, bản c..., là cùng một gốc mà ra, vì có sai một chữ mà cùng sai như nhau. Có bản thì chữa nhưng chữa hơi khác, so sánh với những bản Huế -lúc cụ Nguyễn Du vào làm quan đời Gia Long thì tự nhiên cụ mang bản Kiều vào Huế-. Các cụ trong Huế được đọc, thích lắm, nhất là các vua, vua Minh Mạng thấy bảo là mê truyện Kiều lắm. Các con vua Minh Mạng giành nhau, mỗi nhà có một bản Kiều mà nhiều khi các bản khác nhau, là vì ông nào thích thế nào thì chữa như thế. Tôi nhờ người ta chép lại thì chỉ có bản viết tay thôi, chứ không có bản in ở trong Huế. Những bản viết tay ấy, khác nhau và nhiều khi buồn cười lắm: Mình thấy ông hoàng này có độ học cao hơn, những cái chữa cao hơn; có ông muốn bông đùa cho vui thì chữa một cách chợt nhả, không hay ho gì cả. Nhưng có một bản ông Đào Nguyên Phổ thấy được, thì bản ấy rất hay mà lại có những lời phê bình của các ông Vũ Trinh, Nguyễn Thành, lại có một ít chú thích thì không biết là cụ Nguyễn Du viết ra hay là của những người nho học khác, chú thích những điển tích ấy. 
Rồi ông Đào Nguyên Phổ mang về Hà Nội, lúc ấy ở Hà Nội, gặp phong trào thờ phụng quyển Kiều một cách đặc biệt lắm. Vào khoảng 1906-1907, ông Lê Hoan, gốc khơi nhà võ, mang tiếng là đánh Đề Thám, cho nên sĩ phu ghét lắm. Ông ấy đưa giám binh đi đánh Đề Thám vùng Bắc Ninh, nhờ thế được làm Tổng Đốc Hà Nội. Ông ấy muốn chuộc tội ấy, ít ra để cho những sĩ phu có thể phục ông ấy một cái gì, nên ông có ý đưa quyển Kiều ra làm một cuộc thi về Kiều.
Ông ấy rao ra những người học giỏi, muốn thi thì cho xuống thuyền, mỗi người một thuyền đi xuống sông Nhuệ thì phải. Ở trong thuyền mấy ngày phải làm 20 bài thơ vịnh Kiều, thơ chữ hoặc thơ Nôm cũng được, với một bài tựa gì đó. Lúc ấy sôi nổi ở Bắc, cuộc thi thơ Kiều của ông Lê Hoan. Chính ông Lê Hoan cũng mời những người văn học giỏi ra chấm thi, trong đó có cụ Tam Nguyên Yên Đổ. Ông Chu Mạnh Trinh, một người đậu đình nguyên rất trẻ, khoảng 1885-1886, rất giỏi văn, trúng giải, cho nên những bài của ông rất nổi tiếng, ai cũng truyền tụng cả.
Lại nói đến cụ Tam Nguyên Yên Đổ phải mời ra chấm thi, thì cụ tức lắm. Hồi trước ông Hoàng Cao Khải cũng ép cụ Nguyễn Khuyến làm nhiều việc cụ không thích. Đến ông Lê Hoan ép ra, cụ tức hơn nữa, cho nên cụ có bài thơ Vịnh Kiều, chắc cô cũng biết đấy:



Thằng bán tơ kia giở giói ra
Làm cho bận đến cụ Viên già 



cụ nói thằng bán tơ là thằng xỏ lá, là ông Lê Hoan, giở giói cái chuyện thi thơ ra làm bận đến cụ.
Trở về bài thơ ông Chu Mạnh Trinh với các bài thơ khác, được giải, thì lúc ấy có hiệu Quảng Văn Đình, cũng là những người thợ khắc, có hàng sách ở Hàng Gai, lại có những thợ khắc ở Liễu Tràng, khắc những bài ấy với truyện Kiều, cho nên bây giờ đương còn có những édition vào thời ấy (1906-1907), những bản khắc rất tốt, nhất là lại có mấy bài thơ của ông Chu Mạnh Trinh . Nhưng những bản ấy là những bản các cụ đã chữa nhiều rồi, thành ra dùng thế nhưng cũng thất thực. Bản của ông Kiều Oánh Mậu, in lại bản ông Đào Nguyên Phổ đưa từ Huế về, thì hơn hẳn các bản khác và hơn những bản ở ngoài Bắc nhiều. Thấy có chính xác mà giống văn xưa hơn. Nhưng cái tội là ông Kiều Oánh Mậu cũng không nói rõ là bản ông Đào Nguyên Phổ mang về như thế nào, và ông Kiều Oánh Mậu chữa như thế nào; không nói cho nên mình bây giờ hơi lỡ đỡ.
Hiện bấy giờ, người ta xuất bản nhiều quyển Kiều bằng quốc ngữ. Có người đưa những bản, nói rằng lấy ở trong Tiên Điền ra. Mà trong Tiên Điền, con cháu cụ Nguyễn Du thì không có người nào xuất sắc, học hành gì cả. Trên tôi đã nói, trong họ có ông Nguyễn Mai, đậu tiến sĩ vào đời Duy Tân, đầu thế kỷ XX, sau ông ấy không làm quan, thì ở nhà. Ai đến Hà Tĩnh, vào Tiên Điền cũng tìm gặp ông Nghè Mai hỏi tin tức, với sách vở về cụ Nguyễn Du. Ông ấy tiếp mọi người thì ông ấy nói đưa đẩy. Lời các cụ hồi trước, mình chỉ tin được phần nào mà thôi, không có sự thực, vì các cụ không có óc thiết thực, không có óc khoa học, hai nữa cũng không thấy cái mục đích phải nói thực làm gì. 
Cho nên có bản gọi là Ông Phán Sàigòn, là một người interprète . Hồi xưa, interprète là người trong Nam ra cả. Bởi vì trong ấy học chữ Tây trước ngoài Bắc. Một ông phán Sài Gòn ra làm tòa sứ Hà Tĩnh, cũng mời ông Nguyễn Mai lên, xin một bản. Ông Nguyễn Mai nói thế nào không biết, chứ sách của ông (phán) này in ra, gọi là Kim Túy Tình Từ (là quyển sách về cái tình giữa Kim là Kim Trọng, với Túy là Thúy Kiều) không phải là Kim Vân Kiều. Ông ấy nói rằng có đến làng Tiên Điền, thì cụ Nguyễn Mai cho ông ấy nguyên bản của cụ Nguyễn Du, viết ra quốc ngữ, lúc ấy nhiều người tin như thế. Nhưng bây giờ tôi xét lại thì không phải đâu. Cũng gần như bản của ông Đào Nguyên Phổ, có khác một đôi tí thôi. Vì thế cho nên tôi không biết rằng bản của Kiều Oánh Mậu có đúng hẳn bản trong Huế không? Bởi vì hơi khác bản quốc ngữ gọi là Kim Túy Tình Từ.
Sau nữa tôi lại nhờ nhiều người chép những bản có trong Huế. Có bản của con Tuy Lý Vương, bản ấy chữa hoàn toàn lại, chữa nhiều câu buồn cười lắm, thêm vào đoạn Thúc Sinh bị Hoạn Thư ghen, các ông hoàng thích chí thành ra các ông bịa đặt ra những lối như thế. Cho nên mình chỉ dùng để so sánh mà suy ra chứ không có thể dùng được bản nào chắc chắn cả.
Riêng tôi, vì tôi nghĩ đến truyện Kiều đã lâu lắm rồi, cho nên tôi đã có ý tìm kiếm hẳn ở trong Tiên Điền, coi thử có dấu tích gì về cụ Nguyễn Du với quyển Kiều không. Chuyện đầu tiên tôi đã nói là cụ bạc tóc rất sớm, mà người ta kể cụ viết truyện Kiều trong một đêm, rồi hôm sau dậy, tóc bạc hết. Chuyện ấy hoang đường.
Nhưng có những chuyện khác, vì tôi đã đọc trong những bản cũ có một vài điều thắc mắc, cho nên tôi hỏi ông Nguyễn Mai, hồi ấy tôi gặp ông Nguyễn Mai nhiều lần.
Trong Kiều, thường thì nói:



Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao



nhưng bản tôi đọc mà tôi cho là xưa nhất thì không đúng như thế, mà viết là trượng nghĩa:



Mà lòng trượng nghĩa khinh tài xiết bao



Tôi mới đặt câu hỏi cho cụ Nguyễn Mai, đặt một cách đột ngột: "Ở trong họ cụ, nói trọng nghĩa khinh tài hay trượng nghĩa khinh tài?" Thì cụ nghĩ một chốc, rồi cụ nói: "Trong họ hồi trước thì nói trượng nghĩa khinh tài". Tại sao? Bởi vì người chú cụ Nguyễn Du tên là Nguyễn Trọng. Cho nên họ kiêng chữ trọng, đọc ra chữ trượng. Mà chữ Hán cũng nói trượng nghĩa, trượng nghĩa cũng như trọng nghĩa.
Bản mà tôi thấy trượng nghĩa khinh tài ấy, thì chắc là nguyên văn ngay từ lúc đầu cụ Nguyễn Du viết ra, rồi sau người ta chữa chữ trượng ra trọng. Một vài điểm nho nhỏ như thế nhưng tôi khám phá ra nhiều cái lắm. 
Có lúc tôi hỏi cụ Nguyễn Mai về đoạn Sở Khanh tán Kiều, Kiều mắc lừa đấy, thì cụ có nghe người trong họ nói gì về đoạn này không? Cụ nói có. Trong họ nói: "Trước cụ Nguyễn Du viết khác, rồi các cụ ngoài Bắc chữa lại. Cụ Nguyễn Du viết có bốn câu, các cụ chữa lại sáu câu." Lúc ấy tôi cũng không đếm số câu gì, sau về tôi khảo lại, thấy thực như thế. Đoạn ấy bắt đầu bằng những câu :



Giá đành trong nguyệt trên mây
Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa



đấy là những câu mà các bản quốc ngữ in ra và các bản khắc cũng thế. Nhưng hồi xưa không phải thế, hồi xưa cụ Nguyễn Du viết là:



Quế trong trăng, hạnh trên mây
Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa



-hạnh là cây hạnh, hoa hạnh cũng như hoa quế-, rồi dưới thêm hai câu nữa, tất cả chỉ có bốn câu. Còn những bản sau các cụ développer  thành sáu câu.
Lời cụ Nguyễn Mai nói về đoạn ấy phù hợp với bản tôi cho là xưa nhất. Trong bản xưa nhất ấy, người ta viết bốn câu, nhưng mà người ta bảo: Có bản chữa lại là sáu câu. Thì biết rằng, người đưa ra khắc đấy, hình như là về đời Tự Đức, cũng đã biết những version  khác đi nhiều rồi đấy.
Mà cũng rất có thể là cụ Nguyễn Du đưa vào Huế, trong thời kỳ đầu làm quan ở Quảng Bình, rồi sau được vào Huế làm tham tri bộ Lễ, sau khi đi sứ về, thì trong cả thời gian ấy, chính cụ Nguyễn Du cũng có thể chữa bản mình viết khi đầu. Thành ra có những variante  đối với bản đầu. Những cái khác nhau đấy, có bản hay hơn bản khác, nhưng không biết được thời đại, bởi vì đều chép tay, không đề thời đại gì cả. Cho nên mình cũng có thể nghĩ rằng: Cái bản đầu đương còn thế này, sau cụ Nguyễn Du chữa một vài câu, nên nó ra thế này. Cho đến cái bản cuối cùng người ta còn lại là bản của Kiều Oánh Mậu in ra, gọi là Đoạn Trường Tân Thanh. Mà lúc ấy có nhẽ cụ Nguyễn Du đặt tên truyện là Đoạn Trường Tân Thanh thực đấy chứ không phải là Kim Vân Kiều đâu. Kim Vân Kiều là tên của sách Tầu. Rồi sau những người khắc khác, trở lại cái tên cũ của người Tầu và để là Kim Vân Kiều Truyện. Sau thì gọi là Tân Thanh chứ không nói là Đoạn Trường Tân Thanh nữa. Ông Phạm Quý Thích cũng nói:



Tân Thanh đáo để vị thủy thương



Cụ Nguyễn Thắng trong Kim Vân Kiều Án, phần nhiều cũng viết chữ Tân Thanh. Về Kim Vân Kiều Án của Nguyễn Thắng, ông ấy cũng đậu tiến sĩ cùng tên với Nguyễn Khuyến (tên xưa của cụ Nguyễn Khuyến là Nguyễn Thắng), ông ấy bị tội rồi bị án tù đời Minh Mạng. Ông ấy viết Kim Vân Kiều Án bây giờ đang còn bản in đầu đời Tự Đức (1840). Có thể nói rằng, về những bản in khắc ván mà có nói đến truyện Kiều, Kim Vân Kiều Án là bản đầu tiên. Ông ấy dùng nhiều câu ở trong Kiều và nhất là trong ấy, ông ấy gọi cụ Nguyễn Du là Hầu Đông Các chứ không nói là Hầu Cần Chánh, cái titre  Cần Chánh là vua Gia Long cho, Cần Chánh Học Sĩ, để mà đi sứ. Lúc đi sứ, người ta thường cho một cái titre cao hơn titre thường, nhưng ra ngoài người ta chỉ biết là Đông Các, gọi là Hầu Đông Các .
 



Thụy Khuê: Thưa bác, công việc của bác là bác sửa cho đúng với bản bác cho là cổ nhất, tức là phần lớn những câu sai mà dở thì bác sửa lại cho đúng, còn những câu ngày trước người ta đã sửa lại cho nó hay hơn, thì bác có sửa lại không?
Hoàng Xuân Hãn: Không. Bởi vì mình không chắc chắn nguyên là thế nào cả. Cái mà sau này có sửa hay hơn, hay là đối với mình hiện đại thì cho là hay hơn, thì cũng phải nói rằng: Sau người ta chữa ra thế. Ví dụ như:
Dưới cầu nước chẩy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha
bây giờ là bóng chiều thướt tha. Cái cảnh ấy, đối với mình bây giờ thấy hay lắm, vì lá liễu dài như tơ, coi như nó thướt tha như cái áo dài, hay là tóc dài của người đàn bà. Nhưng mà thực không phải là thướt tha đâu. Những bản cũ là tha ra, là tiếng cổ, tra trong tự vị như Genibrel là có cả. Lúc xưa trong văn cổ đời Minh Mạng tôi cũng gặp những chữ như tha ra. Tha ra có ý là không rơi thẳng xuống mà rơi xiên. Rồi sau chắc là các cụ thấy tha ra không quen đọc, không quen nói nữa, rồi đổi ra thướt tha, hay hơn. Những chữ ấy thì mình cũng vẫn để là thướt tha, nhưng đề rằng bản cổ viết là tha ra chứ không phải thướt tha.
Một mặt nữa, bây giờ có một bản Nôm, mình đọc thế nào? Cái đó là cả một vấn đề. Phiên âm rồi in ra quốc ngữ. Làm thế nào in không có faute typographique  tức là người xếp chữ không được nhầm. Nhưng mà mình đọc chữ Nôm có đúng hay không, đấy lại là việc khác.
Về những bản in ra bằng quốc ngữ, đầu tiên, thì đời Trương Vĩnh Ký in đầu tiên, khoảng 1875, vào đời Tự Đức. Hồi ấy Abel des Michels cũng lấy bản Trương Vĩnh Ký rồi khắc ra. Abel des Michels mới lập Ecole des Langues Orientales ở bên này. Nhưng rồi sau bên ta không còn bản in chữ quốc ngữ xưa nào từ đời Trương Vĩnh Ký nữa; hình như khoảng một nghìn tám trăm tám mấy cũng có tái bản lại bản hồi xưa. Rồi từ khi ông Lê Hoan đề xướng ra thi Kiều, thì lúc ấy Kiều dân gian hóa, nhiều người đọc. Lúc ấy người ta cũng bắt đầu biết đọc quốc ngữ rồi. Một bản phiên âm mà mình biết, là một người Tây ở ngoài Bắc, tên là Nordemann. Nordemann có in một loạt sách phiên âm ra chữ quốc ngữ với mục đích để dậy chữ quốc ngữ. Sau rồi những nhà Xuân Lan, nhà... , rất nhiều nhà in ra.
Bấy giờ không biết có đến mấy trăm hay hàng nghìn bản Kiều in ra như thế. Nhưng mà có những chữ đọc sai từ lúc đầu, bây giờ vẫn cứ đọc sai như thế, bởi vì không hiểu mà người sau cũng không biết chữ Nôm hay là cũng không gắng  đọc chữ Nôm. Tôi lấy một vài thí dụ như có bản Nôm xưa viết rằng:



Một đôi nghiêng nước nghiêng thành



rồi cũng:



Sắc đành đòi một, tài đành họa hai



thành ra mất nghĩa nhiều lắm. Đầu hết không phải là một đôi nghiêng nước nghiêng thành mà là một hai nghiêng nước nghiêng thành. Nhưng với người ít học, thì giữa một hai và một đôi, nghe một đôi hay hơn nhiều, không hiểu là: một hai nghiêng nước nghiêng thành là do đối với người đẹp có câu chữ Hán: nhất tiếu khuynh nhân quốc, tái tiếu khuynh nhân thành . Một nụ cười làm nghiêng nước, một nụ cười nữa làm nghiêng thành. Cho nên họ dùng một hai là thế. Không biết điển ấy thì không thể dùng một hai được, cho nên đổi ra một đôi thì nó hợp lý hơn vì cô Kiều với cô Vân. Đến câu dưới:
Sắc đành đòi một tài đành họa hai
chữ đành thì có thể hiểu được, tuy rằng không mấy người tìm kiếm nghĩa chữ đành đâu. Chữ đành là tiếng cổ, hồi xưa dùng chữ đành nghĩa là ắt là, hẳn là: Sắc thì hẳn là chỉ có một, tài thì họa là có hai người như thế. Chữ đòi một không thấy có nghĩa ở đấy. Đấy là những cái cas  tôi gọi là mình đọc, mình thắc mắc, rồi mình tìm. Thì chỉ tìm trong Kiều, chỗ khác, tôi thấy cái chữ đòi ấy, chữ Nôm viết chữ đội "  thường đọc là đòi.
Trong tiếng đòi, tiếng xưa và tiếng nay cũng có nhiều nghĩa lắm, như đòi phen là nhiều phen, từng phen, sụt sùi đòi cơn là nhiều cơn, từng cơn. Còn tôi đòi là đầy tớ, người đòi đấy là người tớ, đòi đây là theo. Chữ đòi có nhiều nghĩa như thế, thì với những nghĩa ấy, ở đây có nghĩa gì không? Chữ theo cũng không phải, mà chữ nhiều cũng không phải, thì chắc là có nghĩa khác nữa. Nếu đọc kỹ một tí, thì thấy một câu tả Mã Giám Sinh: Mày râu nhẵn, rồi dưới chữ nhẵn là chữ đội " ấy, rồi mới áo quần bảnh bao.
 



Thụy Khuê: Không phải là mày râu nhẵn nhụi ạ?
Hoàng Xuân Hãn: Ấy! Khoan đã! chữ Nôm thì cứ viết chữ đội " ấy, thế thì mình interpréter , mình đọc thế nào? Tự nhiên, đấy là nhờ chữ nhẵn cho nên ai cũng chắc là nhẵn nhụi. Nhưng tại sao chữ Nôm lại viết đội " ? Nhụi có thể viết cái chữ có âm đọc gần như nhụi nữa. Lúc ấy, tôi người Nghệ, tôi biết tại sao cụ viết chữ đội " ấy. 
Đội ấy là để ghi từ trụi, không phải nhụi đâu. Trụi như trụi lông: không có một tí lông nào hết cả. Mà tại sao đội lại đọc trụi? Bởi vì chữ đội " ấy có hai âm, một âm đọc nó biến ra chữ trụy  # , trụy là rơi xuống: trụy lạc. Trụy lạc viết chữ đội " hết. Thường họ có thêm bộ thổ $  #  ở dưới nữa, để chỉ nó rơi xuống đất, nhưng viết một mình " thế cũng là trụy rồi. Từ chữ trụy ấy, ra chữ trụi, có khi là trọi: Đầu trọc trụi hay là đầu trọc trọi. 
à! Lúc ấy mình mới quay lại đây, mới thấy rõ ràng là: Mày râu thì nhẵn nhụi rồi, nói quen là nhẵn nhụi chứ không nói là nhẵn trụi như ở trong Nghệ và sắc đành trọi một, tài đành họa hai. Trọi một là độc nhất, trọi là chữ độc, hồi xưa mình học độc là trọi. Sắc là độc nhất, tài đành họa hai. Thế mới sáng nghĩa chữ ấy.
Phải biết chữ Nôm, phải hiểu tiếng Việt, phải hiểu tiếng cổ, nhiều khi lại tiếng địa phương là chuyện khác nữa, thì lúc ấy mới hiểu thấu được những chữ ấy. Bởi vì một người như cụ Nguyễn Du, không viết những câu mà nói rằng là viết cho qua chuyện đi, ta hiểu thế nào cũng được cả. Không phải thế. Cụ viết một cách chính xác lắm. Chỉ là mình đọc không đúng mà thôi.
Đấy là một cái ví dụ, từ trước đến giờ không ai chữa, và có thể nói là dễ chữa. Có những câu khác, lúc viết rồi người ta chép lại sai, người khác lại sai nữa. Cuối cùng không biết đọc thế nào cả. Thí dụ, bản in bây giờ viết:



Nằm tròn như cuội trong mây



có người viết:



Năm tròn như cuội trong mây



Đấy là lúc Kim Trọng nói chuyện với Kiều, kể công mình ngồi đợi mãi, bữa nay mới được gặp cô, còn tôi thì:



Trần trần một phận ấp cây đã liều.



Tôi cũng đã nghĩ về câu ấy nhiều lắm. Tìm xem viết thế, đọc thế nào cho đúng? Cụ Nguyễn Du nguyên viết thế nào?
Thì phải xét cái tự dạng cách viết chữ Nôm là một, phải biết cách viết chữ Nôm rồi mới đoán tại sao người ta đọc sai, bởi vì viết gần giống một chữ nào đó. Thì tôi mới khám phá ra chữ nằm chính là chữ vuông.

 

_____________________
Chú thích: Sau đây là lời dẫn giải của bác Hãn. Nguyên lời nói trong băng không có chữ Nôm, chúng tôi tạm thời sao lại những chữ Nôm trong bài Di Sản Hoàng Xuân Hãn của anh Nghiêm Xuân Hải, điền vào chỗ trống để độc giả dễ hiểu lời giải thích, với những dè dặt (có thể sai lầm) thường lệ. Xin xem thêm bài Di Sản Hoàng Xuân Hãn ở phần phụ lục C.
Nằm rồi sau (đọc) thành ra là năm , chữ năm (, có chữ ngũ ,  , bên chữ nam ( , thế chữ ngũ ,  trông giống như chữ phương * là vuông Ầ  thế này. Chữ nam ( nó cũng gần giống như chữ bông ỗ  bên này .
Theo tôi thì nguyên vốn là chữ vuông, vì dưới là chữ tròn, thì đấy là vuông tròn.
 



Chú thích: Vì không có bản Kiều Tầm Nguyên, Tạ Trọng Hiệp đã chữa lại (đăng trên Hợp Lưu số 29) thành:
Nằm đọc sai từ âm gần là năm, chữ năm có chữ ngũ ,  , bên chữ nam ( , thế chữ nam viết tháu ) trông giống như chữ phương *  là vuông . Chữ ngũ ,  nó cũng gần giống như chữ bông +  , bên phải, ghi âm vuông.
Theo tôi thì nguyên vốn là chữ vuông, vì dưới là chữ tròn, thì đấy là vuông tròn.
 



Còn chữ thứ ba là chữ như, thì người ta viết chữ như -  là chữ nữ /  bên chữ khẩu :  , thì đọc là nhờ. Vậy phải đọc là: vuông tròn nhờ, rồi gửi ;  là chữ cậy }  . Viết gần như nhau, có khi họ thêm chữ tâm =  , có khi không cần. 
Vuông tròn nhờ cậy khung mây
tôi tái lập lại như thế. Lúc đó Kim trọng nói với Kiều: "Nếu mà cô với tôi thành vợ chồng vuông tròn, cái ấy là nhờ cậy trên trời" (tức là khung mây). Thế còn tôi: Trần trần một phận ấp cây đã liều.
Chuyện bên Trung Quốc, có người một hôm thấy con thỏ đâm đầu vào cái cây rồi nó chết. Ông ấy bắt được, rồi ông ta tưởng con thỏ nào cũng đâm đầu vào cây chết, cho nên ông ấy ôm cây đợi thỏ đâm đầu vào để ông ấy bắt. Ý nói cái anh ngốc mà đợi. Kim Trọng ý muốn nói: "Tôi là thằng ngốc đợi cô."
Đấy là phải đoán cái Nôm cũ thế nào, nó sai thế nào, mà bây giờ nó thành ra thế này, người ta đọc sai thế này. Thì tự nhiên có một phần duy tâm trong ấy nhiều lắm, suy nghĩ và suy đoán nhiều chứ không tránh khỏi duy tâm đâu.
Một thí dụ nữa, thí dụ rất lớn mà người ta rất lầm là chữ treo với chữ gieo. Chữ Nôm hồi xưa khi nào chữ treo thì là tleo thì ta phải viết là (tờ)-lờ , chữ liêu >   thủ xóc là cái tay, bên này là chữ liêu, có âm lờ đấy, cho nên phải đọc là tleo tức là treo.
Thế còn gieo, viết quốc ngữ bây giờ là gi thì nó vào cái họ gi-ch như trời, trăng, viết là gi nhưng có chỗ khác viết là ch, như tôi nói lúc nãy là gieo với gi.
Gieo thì người ta viết bằng chữ chiêu ? , thủ xóc là thủ bên này, rồi bên cạnh là chữ chiêu, chiêu là vời, viết chữ ấy thì nhất định phải đọc là gieo chứ không thể nào đọc treo được. Trong Kiều khi nào cái nghĩa rõ ràng là gieo như



Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân



thì chữ gieo người ta viết đúng là chữ chiêu ? .
Còn lúc mà họ tra tấn bố con họ Vương: treo ngược dây oan  là nó buộc vào chân nó treo lên tường thì thật là chữ treo, họ viết chữ liêu >  . 
Với một vài thí dụ lượm trong ấy thì mình thấy rõ rằng chữ Nôm, cụ Nguyễn Du viết rất đúng, mà hết thẩy các sách Nôm khác viết cũng đúng. Rồi thì nhập vào một câu: Lúc Kiều đi tảo mộ về, rồi nằm nghỉ:



Mặt trời gác núi chiêng đà thu không
Mảnh gương chênh chếch dòm song
Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân



chữ gieo này viết chiêu ?  .



Hải đường rả ngọn đông lân
Giọt sương [......] nặng, cành xuân la đà



thì các bản quốc ngữ viết câu ấy là:



Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà



Mà trong bản Nôm, chữ gieo đây với chữ gieo cách trên hai câu viết khác nhau, chữ trên viết chiêu ?  , chữ này viết liêu >  . Thì phải đọc là treo chứ không thể đọc là gieo được. Đọc cho đúng Nôm ấy là:



Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân
Hải đường rả ngọn đông lân
Giọt sương treo nặng cành xuân la đà



Cành xuân là cái cành non, mới đâm ra, thì những sương ban đêm rơi xuống rồi đọng từng hạt, tùng hạt ở trên cành, như là treo những hạt ngọc ấy trên cây, thì lúc ấy cái cành mới cong xuống thế này, nó la đà xuống. Chứ mà hạt sương gieo nặng, thì chỉ có một hạt sương nó rơi xuống, đúng cái cành ấy, thì cành có nhún xuống rồi nó bật lên chứ không có gì cả. Hình ảnh này không đúng tí nào và nó cũng không đúng ý của cụ. Phải đọc và phải biết đọc Nôm cho thật đúng.
Hồi xưa các cụ đọc thế mà thôi, vui tai thì đọc nhưng không để ý. Rồi sau những người có Tây học, phiên âm ra để in thành sách, thì họ lại không biết đọc Nôm lắm nữa. Cho nên cái phần khảo cứu là cần về chỗ ấy nữa. Thì cái công việc ấy, tôi cốt làm.
 



Thụy Khuê: Thưa bác, bộ sách hiện giờ bác biên khảo có chừng bao nhiêu tập?
Hoàng Xuân Hãn: Cái đó là tùy hết cả. Bởi vì công việc của tôi làm, đầu hết là công việc kế toán. Tôi lấy tám bản Kiều đời Tự Đức, là đời xưa, tôi so sánh từng chữ một. Trong một chữ ấy, tám cuốn ấy viết như nhau hay là khác nhau thì khác như thế nào? Nếu in những cuốn ấy ra thì cũng là một cuốn lớn rồi. Tôi nghĩ rằng cũng không cần làm những cuốn như thế nữa. Chỉ làm cái kết quả mà tôi xét đoán ấy. In ra thì cũng thành cái bản Kiều, tôi gọi là bản Kiều Tầm Nguyên, tìm cái gốc. Rồi những chữ mà nó khác bây giờ thì tôi sẽ chú thích rằng tôi lấy ở đâu, hay là vì cái chữ Nôm tôi đọc là thế nào, hoặc chữ Nôm tôi đoán là thế nào. Thì cũng chỉ như những bản Kiều khác, chứ không có gì khác lắm. Nhưng cái bản chất công việc tôi làm, không phải là để chú thích, không cần phải chú thích, ví dụ như: Khách qua đường để hững hờ chàng Tiêu, thì tự nhiên người chú thích phải tìm cái điển tích chàng Tiêu là thế nào để giảng câu ấy. Đấy là chuyện kể lại chuyện đời xưa. Tôi cũng không thấy cần nữa. Nhưng khi gặp một trường hợp như thế, thì cũng phải nói qua một tí: Chữ Tiêu ấy nó lạ lắm, đối với những người đọc, họ nghi ngờ chưa chắc chữ Tiêu ấy đọc đã đúng, thì mình phải nói thực ra là có một điển tích chàng Tiêu, chữ Tiêu ấy là thế. Thành ra là cũng có một phần nào chú thích, nhưng không phải là chú thích một sự thường.
 



Thụy Khuê: Thưa bác, thế thì công trình của bác làm sắp xong chưa?
Hoàng Xuân Hãn: Phần chú thích như thế thì tôi làm rồi. Bây giờ phải viết ra, tôi dùng ordinateur rồi tôi sẽ đánh thôi. Nhưng mà vì nhiều công việc quá, bữa nay cô tới mà chốc nữa lại có người gọi, nhờ cái chuyện gì. Nhiều khi tôi không biết nên làm cái nào trước, cái nào sau. Như quyển Kiều của tôi, nó 50 năm rồi, nó cứ nằm thế, không có khi nào có một thời gian khá dài dể viết ra thành quyển sách cả. Cho nên tôi có đâu hai cái hòm lớn thế này, những cái tôi đã viết về Kiều, về chuyện ấy. Mà viết bây giờ tôi đọc cũng không được nữa. Mực nó đã nhờn đi, nhiều khi đã 40, 50 năm rồi, mờ đi cả rồi, mắt lại kém nữa. Vì thế tôi cũng muốn làm sao, ít nữa in ra cái cơ bản để cho những người khác tiếp tục.
 



Thụy Khuê: Thưa bác, tất cả công trình bác làm, bác tính bao giờ cho in? Và sau này, tủ sách của bác hay những công trình của bác, bác dự liệu sẽ để lại cho ai?
Hoàng Xuân Hãn: Cái sự nghiệp của tôi, tự nhiên vì tôi không có cương vị gì, sự in ấy cũng khó lắm đấy. Công việc tôi, từ 54, ít ra cũng từ 45, hồi tôi đương còn in được, đương còn ở nhà, anh em giúp đỡ nhau. Đến năm 51, tôi sang bên Pháp thì tự nhiên đối với nhà thì mình đứt chân, mà đối với bên với này tôi không muốn tìm cách vào trong các cơ quan Pháp để có phương tiện in. Cho nên sách tôi soạn, chỉ có Sài Gòn in một ít trong báo Sử Địa, rồi sau bên này báo Tập San Khoa Học Xã Hội in ra. Còn báo Minh Tân thì chính tôi với Bích  bỏ tiền ra in lấy, mới in được; hồi sau không có nữa vì không phương tiện.
Như truyện Kiều này thì thế nào tôi cũng phải đánh máy cho xong, để mà nếu không in được lúc tôi còn sống, thì lúc tôi mất rồi cũng có những cái để người ta in.
Còn về chuyện những bản in mới, hiện giờ trong ba bốn năm nay, bên nhà họ cũng để ý đến những cái tôi viết hồi trước. Vả lại không có trong tư tưởng chung thì có nhẽ không trách những người chạy ra ngoài. Nói đúng thì như thế. Người ở trong nước, tự nhiên là ấn loát dễ dàng hơn chứ. Người đã chạy ra ngoài rồi mà bây giờ lại muốn in sách để về trong nước, thì cũng có sự không tốt cho một số người ở bên nhà. Cho nên cũng không ai nghĩ đến tôi, nghĩ đến chuyện tôi làm. 
Nhưng mấy năm nay, chắc in ra bán được, thành ra họ giành nhau in, chẳng hỏi ý kiến tôi gì hết. Sách cũ của tôi bây giờ bên nhà họ cho in nhiều lắm. Nhiều khi những bài tôi viết trong báo cũng in lại. Tôi mới nhận được một vài số báo đây. Bài họ bịa ra hết cả, nghĩa là chuyện họ nói là tôi hợp tác, cái đó không đúng đâu. Nhưng thôi, cái đó tôi cũng cho là tốt, in ra cho người khác đọc là hay.
Tương lai, hiện giờ có một nhóm muốn in tuyển tập những bài tôi viết hồi trước. Họ hỏi ý kiến tôi. Sự ấn loát cũng không khó lắm đâu, nhất là bây giờ làm composition électronique, in sách đẹp lắm. Nhận được sách bên nhà thì tôi cũng không phản đối chuyện in bừa như thế. Tiếc là nếu họ cho tôi biết, tôi chữa lại vài chỗ tôi biết là có lầm.
 



Thụy Khuê: Thưa bác, thế còn tủ sách của bác?
Hoàng Xuân Hãn: Tủ sách tôi cũng còn phức tạp lắm. Cái gọi là quý thì tôi đã gửi về bên nhà một ít rồi. Còn những sách người Pháp viết, hay gì đấy, hồi trước tôi cũng định làm một thư viện và lúc mà bên nhà có thư viện như Bibliothèque Nationale, hay thư viện bên Nhật, bên Mỹ... thì bên mình cũng có như thế. Nhưng nói thực ra thì Pháp hồi trước, về ngành thư viện, có Ecole Française d'Extrême Orient đấy, họ cũng trữ nhiều sách lắm và sau này họ cũng chuyển lại giả cho mình. Phần quý thì họ làm microfilm đưa về đây. Một vài cái về Chàm, về Thượng thì họ cũng có ý khác, nhiều khi họ không để lại cho mình, họ mang về đây, nhất là những Chàm, Miên, họ đưa về đây cả. Phần ấy, tôi không có. Nhưng sau này, họ giúp cho bên nhà bằng microfilm. 
Chuyện tôi sang bên này tìm được những sách cũ, thật quý, thì tôi cũng mách cho, làm thư mục cho các thư viện về sách Việt Nam. Sau này tôi thấy có kết quả tốt là bên nhà xin microfilm của thư viện Bibliothèque Nationale, của Bibliothèque Vatican, của British Museum. Còn một ít sách của tôi, tự nhiên tôi muốn cho bên nhà hết cả đấy, nhưng phương tiện đưa về bên nhà khó lắm. Bên nhà, ai cũng muốn xin cả. Nhưng không ai nghĩ đến làm thế nào đưa về đâu. Nhiều khi tôi cho rồi cũng mất, không biết vào tay ai. Thành ra bây giờ cũng đương còn lộn xộn lắm.
Nếu mà có gì thì tự nhiên là sách tôi đóng hòm lại, rồi tôi dặn người nhà cho bên ấy, nhưng có phương tiện mới đưa được chứ không cũng mất hết.


Chú thích

 Tự nhiên, thuộc về bản năng.
Những sách khác đều ghi Kiều Oánh Mậu, bác Hãn nói là Kiều Ánh Mậu.
Cụ Nguyễn Du đi sứ sang Tàu 1813 - 1814.
Vũ Trinh (1759-1828), vợ là con gái Nguyễn Khản (Nguyễn Khản là anh cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du). Ông làm quan dưới thời nhà Lê. Khi Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc, Vũ Trinh theo không kịp, liền về ẩn náu ở Hồ Sơn (thuộc Nam Hà Ngày nay) dạy học. Năm Gia Long thứ nhất ông được triệu ra làm quan, 1809 được cử đi sứ triều Thanh. Năm 1816, vì bênh vực học trò là Nguyễn Văn Thuyên, con Nguyễn Văn Thành, Thuyên bị tố cáo làm thơ phản nghịch, Vũ Trinh bị đày vào Quảng Nam. 12 năm sau được ân xá, trở về nhà vài ngày thì mất. (theo Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường, Từ Điển Văn Học Việt Nam, Nxb Giáo Dục, Hà Nội 1995)
bác nói là Nguyễn Thành, các nơi khác chép là Nguyễn Lượng
Cụ Nguyễn Du sinh ngày 3/1/1766 (?), mất ngày 16/9/1820. Mùa thu 1802, cụ được bổ tri huyện Phù Dung, tháng 11 đổi làm tri phủ Thường Tín, năm sau lại được cử lên cửa Nam Quan tiếp sứ thần Trung Quốc. 1805 được thăng hàm Đông Các Điện Học Sĩ. 1807 được cử làm giám khảo trường thi hương Hải Dương. 1809 được bổ cai bạ Hòa Bình. 1813 thăng Cần Chánh Điện Học Sĩ và được cử làm Chánh Sứ đi Trung Quốc.
(theo Nguyễn Lộc, Từ Điển Văn Học, tập 2, trang 56
NXB Khoa Học Xã Hội, 1984)
Phạm Quý Thích (25/12/1760 - 16/5/1825)
Nhà thơ, nhà giáo, làm quan. Sinh quán tại Hải Dương. Trú quán tại Thăng Long (Hà Nội). Đậu Tam giáp Đồng Tiến Sĩ khoa Kỷ Hợi, Cảnh Hưng thứ 40 (1779), được bổ chức Đông các Hiệu Thư. Khi quân Tây Sơn ra Bắc, ông bỏ trốn không cộng tác. Năm đầu triều Nguyễn Gia Long (1802) ông được vời ra giữ chức Thị Trung Học sĩ tước Thích An Hầu. Năm 1811 bi triệu vào Kinh (Huế) giữ việc chép sử. 1813 được bổ làm giám thị trường thi Sơn Nam, sau ông cáo bệnh xin về. Năm Minh Mệnh thứ hai (1821) có triệu chỉ ra làm quan nhưng ông viện đau yếu từ chối. (Từ Điển Văn Học Việt Nam, Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường, nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội, 1999).
Bài Vịnh Truyện Kiều ở trong tập Hoa Đường Nam Thành Thi Tập (bản viết tay, 182 trang, khổ 25x15, có chữ Nôm, ký hiệu A.3146) gồm 307 bài thơ làm khi vào kinh đô Huế; thơ vịnh cảnh trên đường: Dương Giang, Linh Giang, trạm Thường An đế An Dương... và thơ tiễn tặng bạn bè, người nhà (tiễn Ngô tiên sinh, khóc Nhuận Phủ, nhớ nhà gửi thư về...) thơ thuật hoài, mừng viếng.
Riêng thơ về Huế, ngoài tập này, Phạm Quý Thích còn có: Hồi Kinh Nhật Trình Thi (bản viết, 46 trang) gồm 96 bài thơ, tức cảnh, tức sự, cảm hứng hoài cổ, trên đường về lại kinh đô Huế. Và tập Nam Hành Tập (bản viết, 112 hàng) gồm tác phẩm của Phạm Quý Thích và một số người khác, vịnh phong cảnh, vịnh núi sông.
(Di Sản Hán Nôm Thư Mục Đề Yếu, (do Trần Nghĩa và François Gros chủ biên, với sự cộng tác của một nhóm chuyên gia Pháp Việt trong đó có Tạ Trọng Hiệp và Trương Đình Hòe) tập I, trang 786, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1993).
Trong Hợp Lưu số 29, vì không biết nên chúng tôi tự ý viết hoa bốn chữ Đề Từ Truyện Kiều, cho nên ông Nguyễn Quảng Tuân đã chỉ trích là: Không có tài liệu nào nói Phạm Quý Thích đã làm bài thơ Đề từ quyển Kim Vân Kiều tân truyện lúc trên đường vào Kinh" và vẫn ông Nguyễn Quảng Tuân cho biết: "Phạm Quý Thích không vào Kinh năm 1805, 1806 mà đã vào Kinh năm 1811." (Nguyễn Quảng Tuân trong bài Vài nhận xét về việc nghiên cứu truyện Kiều của cố giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Tạp chí Văn Học, Hà Nội, 6/1997).
Vậy xin đính chính lại: Bốn chữ Đề Từ Truyện Kiều viết hoa là do lỗi chúng tôi, vì dốt Hán Nôm nên mới viết như thế. trong lời nói của Hoàng Xuân Hãn, bác "không viết hoa" những chữ này.
Trong Di Sản Hán Nôm Thư Mục Đề Yếu, bài thơ này được ghi là Thơ Vịnh Kiều, trong tập Hoa Đường Nam Hành Thi Tập của Phạm Quý Thích, gồm 307 bài thơ làm khi vào kinh đô Huế. Rồi sau đó Phạm Quý Thích lại có tập Hồi Kinh Nhật Trình Thi.
Như vậy là Hoàng Xuân Hãn rất chính xác. Tập Hoa Đường Nam Hành Thi Tập gồm những bài thơ sáng tác trên đường vào Huế lần đầu (năm 1802), khi Phạm Quý Thích được vua Gia Long vời ra giữ chức Thị Trung Học Sĩ. Lần sau, hồi kinh, năm 1811, để giữ việc chép sử, ông viết tập Hồi Kinh Nhật Trình Thi không có bài vịnh Kiều.



Bài thơ của cụ Phạm Quý Thích (1760-1825):
Giai nhân bất thị náo Tiền Đường
Bán thế yên hoa trái vị thường
Ngọc diện khỉ ưng mai thủy quốc
Băng tâm tự khả đối Kim lang
Đoạn trường mộng lý căn duyên liễu
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường 
Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tâm thanh đáo để vị thùy thương.



chính cụ Phạm Quý Thích dịch ra quốc âm:



Giọt nước Tiền Đường chẳng rửa oan
Phong ba chua trắng nợ hồng nhan
Lòng tơ còn vướng chàng Kim Trọng
Gót ngọc khôn đành giấc thủy quan
Nửa gối đoạn trường tan giấc điệp
Một dây bạc mệnh dứt cầm loan
Cho hay những kẻ tài tình lắm
Trời bắt làm gương để thế gian
(theo Truyện Thúy Kiều, 
Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu đính, Tân Việt).



Cụ Phạm Quý Thích vào Huế lần đầu năm 1802.
truyện xã hội.
Nguyễn Đề còn có tên là Nguyễn Nễ, trước làm quan với nhà Lê, sau giúp Tây Sơn, ở Bắc Thành từ năm 1790 đến khoảng năm 1794 thì được lệnh vào Phú Xuân. Lúc này, Nguyễn Du ở Thái Bình, quê vợ.
(trích Thơ Chữ Hán Nguyễn Du, Lê Thước 
và Trương Chính biên soạn, NXB Văn Học, Hà Nội, 1965)
1790, Đoàn Nguyễn Tuấn được cử sang sứ bộ của vua Quang Trung giả, sang triều kiến Càn Long, cùng với Phan Huy Ích và Vũ Huy Tấn (Từ Điển Văn Học, Phạm Tú Châu).
1792-1795, trai 27-30 tuổi và gái chừng 19-20 tuổi (Hồ Xuân Hương Với Vịnh Hạ Long, Hoàng Xuân Hãn, Tập san Khoa Học Xã Hội, số 10-11, trang 120).
Bản Thánh Thán này, nhà xuất bản có đề trên bìa "Kim Vân Kiều truyện, Thánh Thán ngoại thư", khiến ta có thể hiểu lầm là sách này có qua tay Thánh Thán giới thiệu (chú thích của giáo sư Tạ Trọng Hiệp).
Nhà Xuất bản Xuân Phong Văn Nghệ ở Thẩm Dương (phiá bắc Đại Liên), mấy năm gần đây có xuất bản những cuốn sách cuối đời Minh, đầu đời Thanh, còn lưu trữ ở thành phố Đại Liên, thuộc tỉnh Liêu Ninh. Vùng này thuộc ụảnh hưởng của Nhật từ đầu thế kỷ XX. Thư viện này rất phong phú, do công ty xe lửa Nam Mãn Châu thiết lập. Một công ty hoạt động kinh tế, nhưng đồng thời có những hoạt động văn hoá (chú thích: giáo sư Tạ Trọng Hiệp).
tiểu thuyết bình dân.
phê bình.
vận động, chạy chọt.
trương: trang (sách).
Nguyễn Khuyến (1835-1909)
Kiều bán mình
Thằng bán tơ kia giở giói ra
Làm cho bận đến cụ Viên già
Muốn êm phải biện ba trăm lạng
Khéo xếp nên liều một chiếc thoa
Nổi tiếng mượn mầu son phấn mẹ
Đem thân chuộc lấy tội tình cha.
Có tiền việc ấy mà xong nhỉ?
Đời trước làm quan cũng thế a?
(trích Thơ Văn Nguyễn Khuyến, Văn Học 1979)
bản
Chu Mạnh Trinh (1862-1905)
Tổng vịnh truyện Kiều
Cuốn ngỏ rèm xuân trải mấy sương
Sắc tài chi lắm để làm gương
Công cha bao quản liều thân thiếp
Sự nước xui nên phụ với chàng
Cung oán nỉ non đàn bạc mệnh
Duyên may run rủi lưới Tiền Đường
Hai bên vẹn cả tình cùng hiếu
Đem bắc đồng cân đáng mấy vàng.
(Thanh Tâm Tài Nhân thi tập, 
theo Dương Quảng Hàm, Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển)
thông ngôn
Giá đành trong nguyệt trên mây
Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa
Nổi gan riêng giận trời già
Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng?
Thuyền quyên ví biết anh hùng
Ra tay tháo cũi, sổ lồng như chơi!
(bản Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim)
mở ra, thêm vào
bản
dị bản
chức
Trong Hợp Lưu số 29, chúng tôi rút gọn câu nói của Hoàng Xuân Hãn thành "nhưng ra ngoài người ta chỉ biết chức Hầu Đông Các" để ông Nguyễn Quảng Tuân hiểu lầm.
(chú thích của Nghiêm Xuân Hải): Trong băng ghi âm, Hoàng Xuân Hãn nói "chỉ biết là Đông Các, gọi là Hầu Đông Các"; chị Thụy Khuê ghi "chỉ biết chức Hầu Đông Các" và thay đoạn chữ in thẳng "là Đông Các, gọi là" bằng chữ chức cho xuôi văn. Tôi đi soát lại băng ghi âm vì Ông Nguyễn Quảng Tuân viết báo nói rằng bác đã nhầm: "Đi sứ Trung Quốc về rồi cụ Nguyễn Du mới được phong tước Hầu (Du Đức)". Sau đó lới có sự bàn cãi về năm phong tước Hầu. Đây là một thí dụ ( rất hay là văn bản in vẫn có thể không chính xác. Theo băng thì bác không nói đến tước Hầu. Hai lần bác đã dùng chữ titre để dịch chữ chức, viết gọn lại độc giả vẫn hiểu là bác nói về năm phong chức Đông Các và Cần Chánh, mà không nói về phong tước Hầu. Phê bình bác nhầm về năm phong tước Hầu là phê bình chị Thụy Khuê đã viết lại để ông Nguyễn Quảng Tuân bị hiểu nhầm! 
in lỗi, in sai
Trên Hợp Lưu số 29, chúng tôi ghi nhầm là "không dám".
(chú thích của Nghiêm Xuân Hải): Ông Nguyễn Quảng Tuân phê bình nhận xét này là quá đáng. Nhưng băng ghi "không gắng" thay vì "không dám", nên ông lới phê bình hụt vì bác đâu có nói như vậy.
Nguyên văn câu thơ chữ Hán của Lý Diên Niên:
Nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc.
nghĩa là: ngoảnh lại nhìn một cái nghiêng thành, ngoảnh lại nhìn cái nữa nghìêng nước .
trường hợp
đoán.
(Chú thích của Nghiêm Xuân Hải): anh Tạ Trọng Hiệp đã phải chữa lại tất cả đoạn này vì không có tài liệu viết tay của bác với các chữ Nôm. Ông Nguyễn Quảng Tuân lại phê bình hụt bác Hãn vì phê bình một tài liệu không chính xác. Sự nhầm lẳn này chứng minh rằng nghiên cứu và nhất là nghiên cứu chữ Nôm mà thiếu thận trọng là hỏng ngay.

Ông Nguyễn Ngọc Bích, bạn bác Hãn.