Hiển thị các bài đăng có nhãn Tạ Quang Khôi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tạ Quang Khôi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2009

30- MINH OAN CHO HOẠN THƯ - TẠ QUANG KHÔI

MINH OAN CHO HOẠN THƯ
                                                            TẠ QUANG KHÔI
           
Không một người Việt Nam nào mà không biết tên Hoạn Thư và cái "đức" ghen của nàng. Nhưng có lẽ ít người tìm hiểu sâu xa về cái "đức" ghen đó. Ai cũng cho rằng Hoạn Thư là con người thâm độc, nham hiểm, tàn nhẫn khi hành hạ Thúy Kiều. Vì thế, tên Hoạn Thư đồng nghĩa với sự ghen tuông độc ác của một người đàn bà. Trong thập niên 50, đầu 60, ở miền Nam Việt Nam, báo chí đã tường thuật nhiều vụ đánh ghen rất khủng khiếp. Có người thì cắt phăng "của quý" của chồng, có bà thì đốt cho chồng cháy như cây đuốc (mà danh ca Trần Văn Trạch đã có bài hát "Đốt hay không đốt"), và có kẻ thì tạt át xít vào mặt tình địch, hủy hoại nhan sắc xinh đẹp của một cô vũ nữ... Như vậy, so với cái ghen của Hoạn Thư còn độc ác gấp ngàn lần. Thế mà không ai "nổi tiếng" bằng Hoạn Thư.  Và người đời vẫn chỉ nhớ đến Hoạn Thư mỗi khi nói tới ghen tuông.
            Thật ra, nếu tìm hiểu kỹ hơn về cách đánh ghen của Hoạn tiểu thư trong Đoạn Trường Tân Thanh, chúng ta sẽ thay đổi thái độ với nàng, chứ không khắc nghiệt như hiện nay. Điều mà những người đọc Kiều ít quan tâm tới là tâm trạng giận chồng của Hoạn Thư. Thoạt tiên, nàng không hề thù ghét Kiều :
                                                            "Từ nghe vườn mới thêm hoa,
                                                        "Miệng người đã lắm, tin nhà thì không.
                                                            "Lửa tâm càng dập càng nồng,
                                                        "Giận người đen bạc ra lòng trăng hoa.
                                                            "Ví bằng thú thật cùng ta,
                                                        "Cũng dong kẻ dưới mới là lượng trên.
                                                            "Dại chi chẳng giữ lấy nền,
                                                        "Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình."
            Sở dĩ Hoạn Thư không muốn "rước lấy tiếng ghen" vì lễ giáo của nhà Nho không phản đối việc người đàn ông có thể đèo bòng tới "năm thê, bảy thiếp" miễn phải thông báo cho bà chính thất biết. Bà chính thất là "vợ cái con cột" nắm quyền "nội tướng" (tương đương với bộ trưởng Nội vụ) trong gia đình. Ngoài ra, Hoạn Thư không dám ghen vì nàng còn có một nhược điểm quan trọng là chưa có con để nối dõi tông đường.
            Khi Thúc Sinh đang đắm đuối trong tình yêu mới được chính quan phủ sở tại ở Lâm truy se duyên, Kiều sáng suốt nhận ra rằng chàng Thúc phải qua thủ tục "thông báo" cho đúng lễ nghi :
                                                            "Xin chàng liệu kíp lại nhà,
                                                        "Trước người đẹp ý, sau ta biết tình.
                                                            "Đêm ngày giữ mực giấu quanh,
                                                        "Rày lần mai lữa như hình chưa thông !"
Dù không muốn xa Kiều, nhưng thấy lời khuyên của nàng rất hợp lý, chàng Thúc "đành lòng sinh mới quyết lòng hồi trang". Rồi khi tiễn biệt, Kiều còn nhắc nhở :
                                                            "Nàng rằng :'Non nước xa khơi,
                                                        "Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm.
                                                            "Dễ lòa yếm thắm trôn kim,
                                                        "Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng.
                                                            "Đôi ta chút nghĩa đèo bòng,
                                                        "Đến nhà trước hãy nói sòng cho minh.
                                                            "Dù khi sóng gió bất tình,
                                                        "Lớn ra uy lớn, tôi đành phận tôi.
                                                      "Hơn điều giấu ngược giấu xuôi,
                                                        "Lại mang những việc tày trời đến sau."
Nhưng khi về đến nhà, Thúc Sinh lại quên hết lời dặn dò của Kiều, chỉ vì Hoạn Thư chẳng đả động gì tới chuyện "vợ lẽ" :
                                                "Mấy phen cười nói tỉnh say,
                                            "Tóc tơ bất động mảy may sự tình."
Có lẽ nàng Hoạn muốn chồng phải lên tiếng trước. Nhưng Thúc lại không hiểu như vậy, nên :
                                                "Nghĩ đà bưng kín miệng bình,
                                            "Nào ai có khảo mà mình lại xưng ?
                                                "Những là e ấp dùng dằng,
                                            Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi."
Phải chăng vì chờ mãi không thấy chồng đề cập tới chuyện có vợ nhỏ ở Lâm Truy, Hoạn Thư đã khéo léo mở hé một cánh cửa cho chồng bước vào :
                                                "Rằng :'Trong ngọc đá vàng thau,
                                            "Mười phần ta đã tin nhau cả mười.
                                                "Khen cho những miệng dông dài,
                                            "Bướm ong lại đạt những lời nọ kia.
                                                "Thiếp dù vụng, chẳng hay suy,
                                            "Đã dơ bụng nghĩ lại bia miệng cười."
Nếu nhân dịp này, Thúc mạnh dạn cho biết chàng mới có vợ nhỏ, chắc chắn Hoạn phải đành lòng chấp thuận. Nhưng, tiếc thay, Thúc lại ngu xuẩn nghĩ :
                                                "Thấy lời thủng thẳng như chơi,
                                            "Thuận lời chàng cũng nói xuôi đỡ đòn."
Thế rồi chàng ở nhà cả năm trời mà không nói được gì. Khi chàng nhấp nhỏm muốn ra đi, nhưng lại nhút nhát không dám ngỏ lời. Hoạn Thư biết ý, khôn khéo lên tiếng trước :
                                            "Tình riêng chưa dám rỉ răng,
                                            "Tiểu thư trước đã liệu chừng nhủ qua :
                                                "Cách năm, mây bạc xa xa,
                                            "Lâm Truy cũng phải tính mà thần hôn."
Bất ngờ được vợ cho phép, Thúc mừng quá, bèn :
                                            "Vó câu thẳng ruổi nước non quê người."
Thế là bao nhiêu lời dặn dò, cảnh cáo của Thúy Kiều thành vô ích hết. Cái mục đích về để "thông báo" không được thực hiện.
Vì không được chính thức thông báo, Hoạn Thư bây giờ có quyền thi hành kế hoạch riêng của mình với sự tính toán chu đáo.         
Kế hoạch của Hoạn Thư  là cho một đội "biệt kích" chớp nhoáng vượt biển sang Lâm Truy bắt cóc Thúy Kiều đem về Vô Tích để hành hạ anh chồng phản bội cho bõ ghét.  Bọn Khuyển, Ưng, tay sai của họ Hoạn, đã thành công mỹ mãn trong vụ bắt cóc này. Chúng còn khôn khéo đánh tráo một cái xác vô thừa nhận ở bên sông để làm lạc hướng nhà họ Thúc. Chúng không đưa Thúy Kiều thẳng về nhà Hoạn Thư mà đưa về cho phu nhân, mẹ Hoạn Thư, đánh phủ đầu và dạy nghề làm tôi tớ. Khi Kiều đã trở thành một thị tì quen việc, Hoạn Thư mới đưa tình địch về nhà mình. Nhưng nàng ghen thì ít mà giận chồng thì nhiều nên đối với Kiều cũng không khắc nghiệt quá đáng. Một hôm, nàng hỏi đến tài đánh đàn của Kiều :
                                                "Phải đêm êm ả chiều trời,
                                            "Trúc tơ hỏi đến nghề chơi mọi ngày.
                                                "Lĩnh lời nàng mới lựa dây,
                                            "Nỉ non thánh thót dễ say lòng người !
                                                "Tiểu thư xem cũng thương tài,
                                            "Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân."
Như vậy, rõ ràng Hoạn Thư không giống những người đàn bà đánh ghen khác. Nàng đã có lòng khoan nhân với tình địch. Những người (cả đàn ông lẫn đàn bà) đang trong cơn ghen, thấy tình địch  là muốn băm vằm, đâm chém cho hả cơn ghen. Thế mà Hoạn Thư lại "thương tài" tình địch và còn bớt nghiêm khắc đi vài phần. Như vậy không phải là cái ghen bình thường của những phụ nữ khác  Có thể nói nàng là một người đàn bà hiếm có trên cõi đời này.
Trong khi đó, Thúc Sinh đi đường bộ về đến Lâm truy thì Thúc ông đã lo xong việc tang lễ cho Kiều (thực ra là cái thây vô chủ) :
                                                "Lễ thường đã đủ một hai,
                                            "Lục trình chàng cũng đến nơi bấy giờ.
                                                "Bước vào chốn cũ lầu thơ,
                                            "Tro than một đống, nắng mưa bốn tường.
                                                "Sang nhà cha, đền trung đường,.
                                            "Linh sàng bài vị thờ nàng ở trên."
Thúc vật vã khóc than, rồi nhờ thầy phù thủy đánh đồng thiếp xuống âm phủ tìm Kiều.  Thầy pháp xuất thần một lát rồi trở về cho biết Kiều còn sống và phải đợi một năm nữa hai người mới được gặp nhau, nhưng :
                                                "Hai bên giáp mặt chiền chiền,
                                            "Muốn nhìn mà chẳng dám nhìn lạ thay,
Nủa tin nửa ngờ, chàng khắc khoải sống trong nỗi thương nhớ Kiều khoảng một năm trời thì nguôi ngoai. Nhớ nhà, chàng trở về Vô Tích với Hoạn Thư. Sau khi hai vợ chồng hàn huyên, Hoạn cho gọi Kiều ra. Lúc đó hai người mới "tá hỏa tam tinh" .
                                                "Nhà hương cao cuốn bức là,
                                            "Phòng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
                                                "Bước ra một bước một dừng,
                                            "Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa.
                                                "Phải rằng nắng quáng đèn lòa,
                                            "Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc sinh ?
                                                "Bây giờ tình mới tỏ tình,
                                            "Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai!"
Còn Thúc thì hoảng sợ vô cùng :
                                                "Sinh đà phách lạc hồn xiêu,
                                            "Thương ôi ! Chẳng phải nàng Kiều ở đây?
                                                "Nhân làm sao đến thế này ?
                                            "Thôi thôi, ta đã mắc tay ai rồi !"
Cả hai đều không dám trái lời Hoạn Thư, nên kẻ thì :
                                                "Sợ uy dám chẳng vâng lời,
                                            "Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều."
người thì :
                                                "Sợ quen dám hở ra lời,
                                            "Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa."
Bây giờ đến màn đánh ghen của Hoạn Thư. Nàng sai bày tiệc rượu, gọi là tiệc "tẩy trần" và bắt Kiều hầu rượu :
                                                "Vợ chồng chén tạc chén thù,
                                            "Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
                                                "Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
                                            "Bắt quì tận mặt, bắt mời tận tay."
Thương người yêu bị hành hạ, Thúc cáo say, từ chối. Hoạn Thư dọa đánh Kiều, chàng đành "chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.". Sau đó, Hoạn Thư còn bắt Kiều đàn cho Thúc nghe :
                                                "Bốn dây như khóc như than,
                                            "Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
                                                "Cùng trong một tiếng tơ đồng,
                                            "Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm."
                                                "Giọt châu lã chã khôn cầm,
                                            "Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt sương."
Nhưng khi Kiều bị Hoạn Thư thét mắng về tội làm Thúc buồn, Thúc lại phải "vội vàng gượng nói gượng cười cho qua."
Màn đánh ghen của Hoạn Thư đến đây là hết :
                                                "Giọt rồng canh đã điểm ba,
                                            "Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
                                                "Lòng riêng khấp khởi mừng thầm,
                                            "Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Như vậy cuộc đánh ghen quá nhẹ so với bất cứ cuộc đánh ghen nào khác trên cõi đời này.  Sau trận đánh ghen nhân từ, rất trí tuệ và độc đáo của Hoạn Thư, Kiều tiếp tục làm bổn phận của một thị tì, nhưng lúc nào cũng tỏ vẻ buồn rầu. Hoạn Thư động lòng mới hỏi nguyên do. Kiều thưa :
                                                "Lựa lời nàng mới thưa qua,
                                            "Phải khi mình lại xót xa nỗi mình.'
Hoạn Thư bèn nhờ chồng hỏi lại cho rõ chuyện. Kiều dâng lên một lá đơn :
                                                "Cúi đầu quì trước sân hoa,
                                            "Thân cung nàng mới dâng qua một tờ.
                                                "Diện tiền trình với tiểu thư,
                                            "Thoắt xem dường có ngẩn ngơ chút tình.
                                                "Liền tay trao lại Thúc sinh,
                                            "Rằng :'Tài nên trọng mà tình nên thương!
                                                "Ví chăng có số giầu sang,
                                            "Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên !
                                                "Bể trần chìm nổi thuyền quyên,
                                            "Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời.'
Sau đó, Hoạn chiều theo ý Kiều mà cho nàng được đi tu :
                                                "Tiểu thư rằng :'Ý trong tờ,
                                            "Rắp đem mệnh bạc xin nhờ cưả không.
                                                "Thôi thì thôi cũng chiều lòng,
                                            "Cũng cho khỏi lụy trong vòng bước ra."
Điều này chứng tỏ Hoạn Thư rất rộng lượng với Kiều. Ngoài ra, Hoạn Thư làm như vậy cũng là để giữ thể diện cho bản thân và cho gia đình vì Kiều không phải là một loại con hầu thông thường. Vì hoàn cảnh éo le, nàng đã trở thành một loại nô lệ cho nhà họ Hoạn. Ngay lúc đầu, Hoạn bà đã nói rõ :
                                                "Đã đem mình bán cửa tao,
                                            "Lại còn khủng khỉnh làm cao thế này !"
Rồi chính Hoạn Thư cũng xác nhận như vậy :
                                                "Rằng :"Hoa nô đủ mọi tài..."
Bây giờ Hoạn cho Kiều đi tu, tình trạng nô lệ vẫn còn nhưng được nhẹ bớt đi rất nhiều. Vì thế, nhân lúc vợ vắng nhà, Thúc sinh lẻn ra "Quan Âm các" thăm Kiều, nàng đã cầu khẩn xin Thúc :
                                                "Liệu bài mở cửa cho ra,
                                            "Ấy là tình nặng, ấy là ân sâu."
Trong khi hai người đang kể lể, than khóc thì Hoạn Thư trở về. Nhưng nàng không xuất hiện ngay :
                                                "Hoa rằng :'Bà đến đã lâu,
                                            "Dón chân đứng núp độ đâu nửa giờ.
                                                "Rành rành kẽ tóc chân tơ,
                                            "Mấy lời nghe hết đã dư tỏ tường.
                                                "Bao nhiêu đoạn khổ tình thương,
                                            "Nỗi ông vật vã, nỗi nàng thở than.
                                                "Ngăn tôi đứng lại một bên,
                                            "Chán tai rồi mới bước lên trên lầu."
Vụ "nghe lén" này đã làm Hoạn Thư an tâm, không còn sợ mất chồng nữa, vì Thúc đã dứt khoát cho Kiều biết dù còn thương nàng, chàng cũng không thể "lên thác xuống ghềnh" với nàng được :
                                                "Đã cam tệ bạc với tình,
                                            "Chúa xuân để tội một mình cho hoa.
                                                "Thấp cơ thua trí đàn bà,
                                            "Trông vào đau ruột, nói ra ngại lời.
                                                "Vì ta cho lụy đến người,
                                            "Cát lầm ngọc trắng, thiệt đời xuân xanh."
                                                "Quản chi lên thác xuống ghềnh,
                                            "Cũng toan sống thác với tình cho xong.
                                                "Tông đường chút chửa cam lòng,
                                            "Cắn răng bẻ một chữ đồng làm hai.
                                                "Thẹn mình đá nát vàng phai,
                                            "Trăm thân dễ chuộc một lời được sao ?"
và chàng còn khuyên Kiều trốn đi :
                                                            "Liệu mà xa chạy cao bay,
                                                        "Ái ân ta có ngần này mà thôi.
                                                            "Bây giờ kẻ ngược người xuôi,
                                                        "Biết bao giờ lại nối lời nước non ?"
            Hoạn Thư thấy cuộc đánh ghen của mình đã đạt kết quả tốt đẹp, nên khi xem Kiều viết Kinh thì tỏ ra vui vẻ :
                                                            "Khen rằng :'Bút pháp đã tinh,
                                                        "So vào với thiếp Lan đình nào thua !
                                                            "Tiếc thay lưu lạc giang hồ,
                                                        "Nghìn vàng thực cũng nên mua lấy tài."
            Phải nói rằng chưa có một người đàn bà nào lại khen ngợi tình địch đến như vậy. Vì thế, khi Kiều báo ân, trả oán, không thể trừng phạt nổi Hoạn Thư mà phải tha kẻ thù của mình. Trong cuộc báo ân, trả oán của Kiều, Hoạn Thư là tội phạm đứng đầu sổ :
                                                            "Dưới cờ gươm tuốt nắp ra,
                                                        "Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư."
            Ai cũng tưởng Hoạn nương sẽ phải lãnh một hình phạt rất nặng nề, không bị băm vằm thì cũng bị đánh nhừ xương. Nhưng, sau khi nghe Hoạn trình bày, Kiều phải tha cho nàng :
                                                            "Rằng :'Tôi chút dạ đàn bà,
                                                        "Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
                                                            "Nghĩ cho khi các viết kinh,
                                                        "Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
                                                            "Lòng riêng, riêng cũng kính yêu,
                                                        "Chồng chung chưa dễ ai chiều được ai.
                                                            "Trót lòng gây việc chông gai,
                                                        "Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng ?"
            Trước những lý lẽ vững chắc đó, Kiều đành nói :
                                                            "Tha ra thì cũng may đời,
                                                        "Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen.
                                                            "Đã lòng tri quá thì nên !'
                                                        "Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay."
Hai chữ "nhỏ nhen" chứng tỏ rằng Thúy Kiều cũng biết Hoạn Thư đã dễ dãi và rất rộng lương với mình, nên không có lý do gì mà hành hạ kẻ thù. Hay nói một cách khác Kiều hiểu Hoạn Thư không thực sự đánh ghen mà chỉ muốn "dằn mặt" Thúc Sinh vì cái tội có vợ nhỏ mà không "thông báo" cho đúng phép tắc. Hoạn đã nói rõ điều đó khi về bàn tính với mẹ :
                                                   "Thưa nhà huyên hết mọi tình,
                                                 "Nỗi chàng ở bạc, nỗi mình chịu đen."
                                                     “Nghĩ rằng : ngứa ghẻ hờn ghen,
                                                 “Xấu chàng mà có ai khen chi mình.
Đến đây chúng ta có thể nói rằng nếu Hoạn Thư đánh ghen (như người ta vẫn gán cho nàng) thì cuộc đánh ghen đã rất nhân từ, độ lượng, không giống những vụ đánh ghen độc ác, tàn nhẫn khác. Riêng chúng tôi nghĩ rằng Hoạn Thư muốn hành hạ Thúc Sinh, nhưng luân lý ngày xưa không cho phép vợ được hỗn láo, lăng loàn với chồng. Hoạn phải chọn Kiều để hành hạ vì biết rằng Thúc sẽ đau khổ hơn chính chàng bị hành hạ. Và Hoạn Thư đã đạt mục đích : Thúc không những đau khổ vô cùng mà còn đành phải "cắn răng bẻ một chữ đồng làm hai". Hoạn Thư còn mong gì hơn nữa khi đã dành được chồng khỏi tay tình địch. Nàng đã mãn nguyện nên khi Kiều lấy trộm chuông vàng khánh bạc lẻn trốn đi, không sai người đuổi bắt lại.
                                                                                                                             TẠ QUANG KHÔI

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2009

16- NHÂN VẬT TRUYỆN KIỀU - Tạ Quang Khôi

NHÂN VẬT TRUYỆN KIỀU
Tạ Quang Khôi

Hầu như chúng ta ai cũng đã đọc Kiều, thương xót cho thân phận một cô gái khuê các bị rơi vào lầu xanh vì chữ hiếu. Nhưng có lẽ chúng ta ít ai tìm hiểu sâu xa về các nhân vật trong truyện. Hôm nay chúng tôi thử làm cái việc mà có thể bị những người tôn thờ Truyện Kiều cho là “bới bèo ra bọ”. Nhưng khi một cuốn sách được coi là đại tác phẩm thì cuốn sách đó phải chịu đựng được mọi cuộc thử lửa. Trong bài ngắn này, chúng tôi cũng chỉ muốn xem xét một số nhân vật quan trọng với những bất thường của họ.

Trước hết, chúng tôi nhận xét hai nhân vật chính là Thúy Kiều và Kim Trọng. Sau đó chúng tôi sẽ tìm hiểu thêm một vài nhân vật phụ.

Về Thúy Kiều, Nguyễn Du đã tả như sau :

Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
Cung, thương lầu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân.
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.

Như vậy, chúng ta biết rằng Thúy Kiều đẹp, thông minh và tài hoa. Theo quan niệm của cổ nhân, người đã đẹp lại có nhiều tài tất sẽ bị trời đất ghen, đầy đọa cho bõ ghét. Thúy Kiều vừa đẹp lại vừa tài hoa làm sao thoát khỏi kiếp đoạn trường. Có những điềm hoặc lới nói báo trước cho Kiều biết đời nàng sẽ nhiều gian truân. Năm nàng còn thơ ngây, một thầy tướng đã đoán :

Anh hoa phát tiết ra ngoài,
Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.

Rồi sau khi dự hội Ðạp Thanh, nàng lại mơ thấy Ðạm Tiên cho biết nàng “cùng hôi cùng thuyền” với Ðạm, nghĩa là cũng sẽ trở thành một kỹ nữ :

Mà xem trong sổ đọan trường có tên.
Âu đành quả kiếp nhân duyên,
Cũng người một hội một thuyền đâu xa.

Những điềm báo trước và những lời nói ấy đã ảnh hưởng tới tâm lý của nàng rất nhiều. Lúc nào nàng cũng nghĩ rằng đời mình sẽ chẳng ra gì. Sau khi mơ thấy Ðạm Tiên, nàng đã :

Một mình lưỡng lự canh chầy,
Ðường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.
Hoa trôi bèo dạt đã đành,
Biết duyên mình, biết phận mình thế thôi.

Khi thấy Kim Trọng thuộc loại “chẳng sân ngọc bội, cũng phường kim môn”, nàng đã tự so sánh :

Thấy người lại ngẫm đến ta,
Một dày một mỏng biết là có nên.

hoặc :

Bây giờ rõ mặt đôi ta.
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao.

Nỗi buồn rầu và lo lắng cho tương lai đã ảnh hưởng tới tiếng đàn của Kiều. Chính Kim Trọng đã nhận xét :

Rằng :”Hay thì thật là hay,
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào.
So chi những khúc tiêu tao,
Dột lòng mình cũng nao nao lòng người.

Sau này, Hồ Tôn Hiến cũng phải thắc mắc :

Hỏi rằng :”Này khúc ở đâu,
Nghe ra muôn oán nghìn sầu lắm thay.”

Tiếng đàn bạc mệnh ấy chỉ hết buồn thảm khi nàng đã trải qua mười lăm năm luân lạc và đã được gặp lại gia đình, tái hồi cùng chàng Kim.

Ngoài tâm trạng đau buồn và bất an của Kiều, nhìn chung, nàng la một người tốt, có hiếu với cha mẹ, thủy chung với người tình. Nhưng trong cuộc đời luân lạc của nàng, người ta cũng nhận thấy có những lúc nàng xử sự không đúng hoặc tự mâu thuẫn. Khi mới gặp Từ Hải, nàng đã khen Từ như sau :

Nàng rằng :”Lượng cả bao dong,
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen.”

Nghĩa là nàng đoán Từ sẽ có ngày lên ngôi vua. Vậy mà khi Hồ Tôn Hiến dụ hàng, nàng đã khuyên Từ với lời lẽ khinh miệt :

Ngẫm từ dấy việc binh đao,
Ðống xương Vô Ðịnh đã cao bằng đầu.
Làm chi để tiếng về sau,
Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào

Nàng đã coi Từ như một tướng giặc, không còn là một đấng anh hùng làm nên sự nghiệp đế vương nữa. Thật ra, Hoàng Sào cũng không phải là mộ tướng giặc tầm thường. Họ Hoàng muốn cướp ngôi nhà Ðường, chiêu binh mãi mã nổi lên, đã chiếm được Trường An, nhưng rồi bị thất bại. Cái lệ ở đời là “được làm vua, thua làm giặc” Rõ ràng là Thúy Kiều đã tiền hậu bất nhất. Vì lời khuyên của nàng Từ đã bị họ Hồ phản bội và chết đứng giữa trận tiền.

Khi Kiều báo ân trả oán, người ta cũng nhận thấy có nhiếu điểm vô lý, thiếu sót. Có hai người đã giúp đỡ nàng khi nàng bị hành hạ, nàng chỉ trả ơn có một người. Ðó là Mã Kiều và mụ quản gia trong nhà Họan bà. Nàng đã quên Mã Kiều, chỉ nhớ có mụ quản gia. Thật ra, Mã Kiều mới đáng được trả ơn.

Khi Kiều mắc lận Sở Khanh, bị Tú Bà bắt về đánh đập rất tàn nhẫn :

Hung hăng chẳng hỏi chẳng tra,
Ðang tay vùi liễu, dập hoa tơi bời.
Thịt da ai cũng là người,
Lòng nào hồng rụng, thắm rời chẳng đau.
Hết lời thủ phục, khẩn cầu,
Uốn lưng thịt đổ, dập đầu máu sa.

Sau khi Kiều van xin và hứa hẹn :”Chút lòng trinh bạch từ sau cũng chừa” Tú Bà mới nguôi và đòi phải có người bảo lĩnh. Mã Kiều vì thương Thúy Kiêu nên đã đứng ra bảo lĩnh :

Bầy vai có ả Mã Kiều
Xót nàng, ra mới đánh liều chịu đoan

Còn về mụ quản gia, chỉ sau khi Kiều bị mẹ Hoạn Thư đánh đòn phủ đầu và bắt làm thị tì, mụ mới tỏ lòng xót thương, rồi khuyên :

Ở đây, tai vách, mạch dừng,
Thấy ai người cũ cũng đừng nhìn chi

Có người cho rằng cả Mã Kiều lẫn mụ quản gia đều chỉ là “cò mồi”, làm nhiệm vụ được chủ giao phó, không thật sự có lòng thương xót Kiều. Nếu đúng như vậy, tại sao Kiều chỉ nhớ ơn mụ quản gia mà quên Mã Kiều ?

Nhân vật thứ hai chúng tôi muốn nói tới là Kim Trọng. Tác giả tả chàng Kim như sau :

“Hài văn lần bước dặm xanh,
“Một vùng như thể cây quỳnh, cành dao.



“Phong tư tài mạo tuyệt vời,
“Vào trong phong nhã, ra ngoàihào hoa.”

nghìa là Kim Trọng rất đẹp trai, tính tình hào hoa và lịch sự. Nhưng có thật Kim Trọng “vào trong phong nhã ra ngòai hào hoa” như tác giả tả không ? Chúng ta đọc đoạn thơ sau đây để có thể xác định rõ hơn :

Nhẫn từ quán khách lân la,
Tuần trăng thấm tioắt nay đà thêm hai.
Cách tường phải buổi êm trời,
Dưới đào dường có bóng người thướt tha.
Buông cầm, xốc áo vội ra,
Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh.
Lần theo tường gấm dạo quanh,
Trên đào nhác thấy một cành kim thoa.
Giơ tay, với lấy về nhà,
Này trong khuê các đâu mà đến đây.

Khi Kim Trọng đã phải “giơ tay với lấy” tức là chàng đã thò tay sang nhà hàng

xóm để lấy kim thoa, vì kim thoa mắc trên cành đào trong vườn nhà Thúy Kiều, hơi xa hàng rào. Xuân Phúc, trong cuốn “KIM-VÂN-KIỀU” (nhà xuất bản Thanh Long ở Bruxelles, Bỉ, năm 1986) dịch sang chữ Pháp như sau :”Etendant le bras, il prit l’objet et le ramenant chez lui.” Còn giáo sư Huỳnh Sanh Thông dịch sang Anh ngữ là :”He reached for it and took it home.” (The Tale Of Kiều, trang 17). Như vậy, rõ ràng Kim Trọng thò tay sâu vào nhà hàng xóm để lấy kim thoa. Thế mà hôm sau chàng lại nói với Kiều :

Thoa này bắt được hư không,
Biết đâu Hợp phố mà mong châu về.

“Bắt được hư không” có nghĩa là tình cờ mà nhặt được chứ không phải với tay sang nhà người ta mà lấy trộm. Ðã ăn cắp đồ lại nói dối nữa, có phải là tư cách của một người “vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa” không ? Cách đây khoảng nửa thế kỷ, tôi dạy một lớp đệ Tam C, một nam sinh đã nói đùa :

“Chàng Kim con nhà giầu, đẹp trai, học giỏi, chỉ có tội ăn cắp vặt thôi.”

Nhân vật thứ ba chúng tôi nói tới là Thúc Sinh. Tác giả tả chàng Thúc như sau :

Khách du bỗng có một người,
Kỳ Tâm họ Thúc cũng nòi thư hương.
Vốn người huyện Tích, châu Thường,
Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Truy.

Thúc vừa là nhà buôn giầu vừa còn đi học. Có lẽ Thúc ông giầu lắm nên con trai mới được làm rể một quan Lại bộ và chàng Thúc mới có lối ăn chơi hoang phí :

Thúc sinh quen thói bốc rời,
Trăm nghìn đổ một trận cười như không.

Thúc là con nhà giầu, ham chơi hơn ham học nên lúc nào cũng chỉ là sinh viên. Trong khi đó, Kim Trọng và Vương Quan đều đỗ đạt, ra làm quan. Một sự tình cờ là mười mấy năm sau Kim Trọng được làm quan ở Lâm Truy. Thúy Vân bỗng mơ thấy Kiều, kể lại cho chồng nghe. Chàng Kim bèn mở cuộc điều tra. Viên lại già họ Ðô chỉ biết có một phần câu chuyện nên đề nghị quan hỏi “Thúc sinh viên”. Như vậy, đi học (sinh viên) là một nghề của Thúc, không phải là một phương tiện để tiến thân như mọi người.

Về tính tình, Thúc cũng không phải là người tốt. Khi dụ Kiều trốn khỏi thanh lâu, Thúc đã mạnh bạo hứa hẹn :

Ðường xa chớ ngại Ngô, Lào,
Trăm điều hãy cứ trông vào một ta.
Ðã gần chi có điều xa,
Ðá vàng cũng quyết, phong ba cũng liều.

Vậy mà khi Kiều bị Hoạn Thư bắt về Vô Tích để hành hạ, Thúc không dám công khai bênh vực nàng, chỉ “khôn ngăn giọt ngọc, sụt sùi nhỏ sa”. Khi bị vợ hạch hỏi tại sao khóc lại nói dối là nhớ thương mẹ mới chết. Hình như, ngoài tiền bạc, chàng Thúc còn nhiều nước mắt nữa. Khi Kiều bị quan Phủ đánh đòn, chàng cũng chỉ biết khóc mà thôi. Chưa có người đàn ông nhiều nước mắt như chàng.

Sau này, khi biết không còn hy vọng sống với Kiều nữa, chàng nhẫn tâm đuổi khéo nàng :

Tông đường chút chửa cam lòng,
Nghiến răng bẻ một chữ đồng làm hai.

và :

Liệu mà xa chạy cao bay,
Ái ân ta có ngần này mà thôi.

Kiều không còn lối nào thóat nên đành phải trốn đi :

Cất mình qua ngọn tường hoa,
Lần đường theo bóng trăng tà về tây.
Mịt mù dặm cát đồi cây,
Tiếng gà điếm nguyệt, dấu giầy cầu sương.
Ðêm khuya thân gái dặm trường,
Phần e đường xá, phần thương dãi dầu.

Nhân vật thứ tư chúng tôi muốn nhận xét là sư Giác Duyên. Về vị sư này, chúng tôi cũng có một vài thắc mắc. Trước hết, chúng tôi nghĩ rằng bà là một nhà tu vô trách nhiệm. Trước khi trốn khỏi nhà HoạnThư, Kiều đã ăn cắp chuông vàng, khánh bạc để phòng thân. Nàng may mắn được gặp sư trụ trì chùa “Chiêu Ẩn Am” là Giác duyên tiếp đón nồng hậu. Nàng liền trao cho sư những bảo vật đó. Sư không thắc mắc gì nhiều, cho nàng được trú chân trong chùa. Sư còn tỏ vẻ quý mến nàng vì thấy nàng thông tuệ khác thường. Cho đến một ngày, có một người “đàn việt” nhận ra nguồn gốc của chuông vàng khánh bạc thì sư hốt hoảng hỏi Kiều :

Giác Duyên thực ý lo lường,
Ðêm thanh mới hỏi lại nàng trước sau.
Nghĩ rằng khôn nỗi giấu mầu,
Sự mình nàng mới gót đầu bày ngay.
“Bây giờ sự đã dường này,
“Phận hèn dù rủi dù may tại người.”
Giác Duyên nghe nói rụng rời,
Nửa thương nửa sợ, bồi hồi chẳng xong.

Sau đó, sư tìm cách đuổi Kiều ra khỏi chùa. Sư giao nàng cho một mụ chuyên môn buôn người không thua gì Tú Bà. Ðuổi Kiều xong, sư phủi tay, không còn nhớ đến nàng nữa. Mãi đến khi nàng trả ân, báo oán, cho rước mời sư tham dự sư mới gặp lại nàng. Trong thời gian đó, nàng đã bị Bạc Bà ép lấy Bạc Hạnh rồi đưa nàng sang châu Thai bán cho lầu xanh. Tu hành như vậy mà cuối cùng Giác Duyên cũng đắc đạo, “mây bay, hạc lánh”, cũng “hái thuốc phương xa” thì kể cũng lạ.

Ngoài tinh thần vô trách nhiệm của Giác Duyên, chúng tôi còn thấy tình cảm của nhà sư vẫn chưa thoát khỏi phàm tục. Khi biết chuông vàng khánh bạc do Kiều mang tới là bảo vật của nhà họ Họan, sư hốt hoảng, lo sợ, không bình tĩnh như người đã tu hành lâu năm. Ðã thí phát đi tu thì việc đời còn có gì đáng lo sợ nữa đâu.

Cuối cùng, chúng tôi xin nói qua về Hồ Tôn Hiến, một quan Tổng đốc trọng thần của nhà Minh.

Có quan tổng đốc trọng thần
Là Hồ Tôn Hiến kinh luân gồm tài.
Ðẩy xe vâng chỉ đặc sai,
Tiện nghi bát tiễu, việc ngoàidổng nhung.

Hãy xin bỏ qua chuyện lừa gạt của họ Hồ trọng vụ đầu hàng của Từ Hải, vì việc quân ngoài chiến trường có thể tùy cơ mà ứng biến, dù theo sử nhà Minh, họ Hồ bị các quan trong triều phản đối chuyện giết người đã đầu hàng. Chúng tôi chỉ muốn đề cập tới chuyện Hồ đối sử với Kiều. Nhờ Kiều, Hồ đã giết được Từ Hải, nên đã tỏ lòng biết ơn, nói với nàng rằng :

Ðã hay thành toán miếu đường,
Chấp công cũng có lời nàng mới nên.
Bây giờ sự đã vẹn tuyền,
Mặc lòng nghĩ lấy, muốn xin bề nào ?

Lúc đó, Kiều chỉ xin chôn cất Từ một cách đàng hoàng. Nhưng về sau này, trong tiệc “hạ công”, Hồ nửa tỉnh nửa say ép nàng tấu đàn :

Một cung gió thảm mưa sầu,
Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay.
Ve ngâm, vượn hót nào tày,
Lọt tai, Hồ cũng nhăn mày, rơi châu.
Hỏi rằng :”Này khúc ở đâu,?
“Nghe ra muôn oán nghìn sầu lắm thay.

Trong cơn “ngây vì tình”, Hồ ngỏ ý muốn nạp Kiều làm thiếp, nhưng nàng từ chối

Còn chi nữa, cánh hoa tàn,
Tơ lòng đã dứt dây đàn tiểu lân.
Rộng thương còn mảnh hồng quần,
Hơi tàn được thấy gốc phần là may.

Có lẽ vì lời từ chối đó nên khi tỉnh rượu Hồ đã để tâm thù, nghĩ rằng mình là “phương diện quốc gia” đâu phải phường trăng gió. Ðáng lẽ, nếu là một quân tử, Hồ phải cho Kiều về với gia đình. Nhưng ông là người tiểu tâm nên gả nàng cho một thổ quan, vừa chứng tỏ mình không có tình ý gì với nàng vừa muốn đầy đọa nàng cho bõ ghét. Ðường đường là một “quan tổng đốc trọng thần” mà đối sử với một cô gái chân yếu tay mềm như vậy kể cũng là tiểu nhân.

Theo Dư Hoài trong “Ngu Sơ Tân chí”, ba nhân vật Hồ Tôn Hiến, Từ Hải và Thúy Kiều có thật. Từ Hải, hiệu là Minh Sơn, đã từng đi học, nhưng thi mấy khóa không đỗ, quay ra đi buôn, trở nên giầu có. Nhưng theo Phạm Quỳnh, Từ Hải đã từng đi tu, có đạo hiệu là Minh Sơn. Từ là người phóng khoáng, hào sảng, thích giao du với giới giang hồ, hiệp khách. Còn Thúy Kiều là một kỹ nữ, người Lâm Truy. Khi nàng nhảy xuống sông Tiền Ðường bị chết chìm, không được cứu sống như trong truyện.

Sau khi nhận xét qua một số nhân vật, chúng tôi thấy trong Truyện Kiều, chỉ có Hoạn Thư và Thúy Vân là những người có những hành động hợp lý và đáng khen nhất.

Hoạn Thư không đánh ghen một cách ồn ào, mù quáng và tàn ác như nhiều người lầm tưởng. Chúng tôi đã có một bài riêng để minh oan cho Hoạn Thư về chuyện đánh ghen nên trong bài này chỉ xin nói vắn tắt.

Hoạn Thư sẵn sàng chấp nhận chồng có vợ nhỏ, miễn chàng Thúc phải thông báo cho đúng phép tắc. Nàng đã ướm lời trước để chồng thú nhận, nhưng Thúc ngu dốt tưởng giấu được vợ nên làm lơ :

Rằng :”Trong ngọc đá, vàng thau,
Mười phần ta đã tin nhau cả mười.
Khen cho những miệng dông dài.
Bướm ong lại đặt những lời nọ kia.
Thiếp dù vụng chẳng hay suy,
Ðã dơ bụng nghĩ lại bia miệng cười.”

Nếu là người khôn, Thúc đã nhân cơ hội này mà thú thật, chắc Hoạn Thư cũng phải tha thứ và chấp nhận. Nhưng Thúc lại tưởng Hoạn không biết chuyện mình có vợ nhỏ nên đã bỏ lỡ cơ hội.

Sau khi sai Khuyển Ưng bắt cóc Kiều về, Hoạn cũng tỏ ra có cảm tình với Kiều. Nàng chỉ hành hạ Kiều để dằn mặt chồng cho bõ tức. Khi đã hả cơn giận, nàng cho Kiều ra Quan Âm Các để tu. Không những thế, nàng còn khen Kiều viết chữ đẹp :

Khen rằng :”Bút pháp đã tinh,
So vào với thiếp Lan đình nào thua.”

Như vậy, Hoạn Thư là người có lòng nhân từ. Nàng không đánh đập, đầy đọa Kiều như nhiều người đàn bà khác đánh ghen. Nàng cũng không cho người truy lùng, bắt Kiều lại khi Kiều ăn cắp chuông vàng khánh bạc trốn đi. Vì thế, sau này, trong cuộc báo ân trả oán, Kiều đã phải tha Hoạn Thư dù coi Hoạn là “chính danh thủ phạm”.

Cuối cùng, chúng tôi xin nói tới Thúy Vân. Có người cho rằng Vân đã giả dối khi nhường lại Kim Trọng cho chị trong bữa tiệc đoàn viên. Chúng ta thử đọc lại đọan văn đó để xét tình ý của Thúy Vân xem như thế nào ?

Tàng tàng chén cúc dở say,
Ðứng lên Vân mới giãi bày một hai.
Rằng :”Trong tác hợp cơ trời,
Ðôi bên gặp gỡ một lời kết giao.
Gặp cơn bình địa ba đào,
Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em.
Cũng là phận cải duyên kim,
Cũng là máu chảy ruột mềm chứ sao.
Những là rày ước mai ao,
Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình.
Bây giờ duyên vỡ lại lành,
Khuôn thiêng lừa lọc đã dành có nơi.
Còn duyên may lại còn người,
Còn vành trăng bạc, còn lời nguyền xưa.
Quả mai ba, bảy đương vừa,
Ðào non sớm liệu se tơ kịp thì.

Thúy Vân đã rất thành thật khi đề nghị Kim Trọng và Thúy Kiều nối lại tình xưa, với những lý do sau đây :

1. Nàng chỉ là một người đã làm tròn nhiệm vụ được giao phó. Sau khi bán mình

để lấy tiền chuộc cha và em ra khỏi lao tù, Kiều nhớ đến mối tình của Kim Trọng nên đã năn nỉ Thúy Vân thay mình mà trả nghĩa cho tình lang :

Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

Thúy Vân là người phúc hậu, hiền lành (khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang) nên khi đã nhận lời giúp chị thì cố gắng làm tròn bổn phận. Thật ra, trong cuộc gia biến ấy, mọi người phải cố gắng góp sức giải quyết những khó khăn.

2. Tục lệ cổ của người Trung Hoa xưa, người đàn ông có quyền “năm thê, bảy thiếp”. Có những trường hợp chưa chọn được chính thê, người đàn ông có thể cứ lấy vợ, nhưng đều là vợ nhỏ (thiếp). Thúy Vân tự coi mình là một thiếp của Kim Trọng.

3. Thúy Vân lúc nào cũng thương nhớ người chị đã hy sinh cả cuộc đời mình cho gia đình. Ðó là một hy sinh quá lớn đối với một thiếu nữ khuê các vừa đến tuổi cập kê. Vì thế, khi Kim Trọng đến trấn nhậm Lâm Truy, nàng bỗng nằm mơ thấy Kiều. Tỉnh dậy, nàng nói ngay cho chồng biết để thăm dò tin tức Kiều. Ðiều này chứng tỏ lòng thành thật biết ơn của nàng với người chị can đảm và xấu số.

Vậy, khi gia đình đã được đoàn tụ trở lại sau mười lăm năm luân lạc của Kiều, Thúy Vân đã thành thật nhường lại Kim Trọng cho chị và sẵn sàng lui xuống hàng thiếp thì có gì là giả dối đâu vì đó cũng là một cách trả ơn chị,

Chúng tôi hy vọng bài nhận xét ngắn này sẽ giúp các bạn có thể hiều hơn về một cuốn truyện vẫn được coi là đại tác phẩm của nền văn học Việt Nam.

Tạ Quang Khôi
Tháng 11, 2008