Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Thiên Thư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Thiên Thư. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2009

19.5- ĐOẠN TRƯỜNG VÔ THANH - (Phần cuối - Kết)


ĐOẠN TRƯỜNG VÔ THANH(Phần cuối - Hết)

Gửi bàigửi bởi tranngoc » 14/03/2008 03:33:05 pm
XXVI. Báo Ngày Xuân Quang.

Bức thứ hai mươi sáu:

(Kim Trọng về thăm Kiều, dừng cương 

ngó dòng tiểu khê, chợt bao nhiêu tiếng 

đàn Kiều theo nước chảy, hoá thành bản 

Vô Thanh, khiến Kim thấy được
hào quang trên dung nhan Thuý Kiều)





Cuối Thu theo gió tìm hoa,

Bước đi là một giẫm nhoà nhạt sương.

Bạch đàn gỗ trắng bên đường,

Đàn chim khép cánh bụi đường quan san.
Đồi cao nở đoá hôn hoàng,
Tảng mây lấp mặt trời vàng vàng hoe.
Cồn rừng ung ủng khói che,
Diều hâu báo rét tiếng nghe mơ hồ.
Nẻo xa tím ngắt cỏ bồ,
Sương vàng lãng đãng bóng cô thôn chiều.
Quá quan Kim vượt tìm Kiều,
Bâng khuâng băng núi, tiêu điều vượt sông.
Nhớ người cương buộc chùm bông,
Áo xanh nắng nhạt, ngựa hồng gió phai.
Riêng trăng cật ngựa u hoài,
Cỏ xanh xanh tưởng dấu hài cố nhân. (3160)
Đêm thâu giục giã trăng ngần,
Ngày dài gió soãi, phù vân dập dồn.

Hình ảnh

-oOo-

Về qua muôn dặm hoàng hôn,
Dừng cương Kim ngó cố thôn Thạch Đào.
Đất xưa Đố là hội nào,
Hoa nay nhớ chuyện hoa nao mĩm cười.
Liễu xanh tha thướt dáng người,
Thầm trông dạc vóc, ngó vời gầy hoa.
Ngày nào mắt đắm thu ba,
Nước xuôi theo tóc la đà cài hương.
Tấc lòng lẫn nhớ pha thương,
Tiểu khê ơi ! Sóng bên đường về đâu.
Một dòng chảy miết miên thâu,
Còn in xanh chuyện tình đầu thơ ngây.
Chàng nhìn giải nước lùa mây,
Khe xanh biêng biếc hoá dây đàn lòng.
Sóng ngoài hoà với đàn trong,
Trên yên tượng ngọc mơ mòng năm cung.

-oOo-

Tơ nào chén lệch trăng rung,
Nghiêng hiên Lãm Thúy tơ chùng sao rơi. (3180)
Tơ nào suối lượn chơi vơi,
Hương dân sợi cũ đàn lơi dòng huyền.
Tơ nào cất hạt trầm lên,
Dưới hoa sương rụng đầu thềm khói giăng.
Tơ nào rực rỡ hiên trăng,
Ba lòng neo một bến hằng đêm xưa.
Con tim rạo rực âm thừa,
Bây giờ rung với nước xưa một nhành.
Bản hoà bát ngát Vô Thanh,
Đoá phù dung mộng đã đành trắng tay. (3190)
Mơ hồ như một hoa dây,
Theo hương về cội, bao ngày xuân quang.

-oOo-
Hình ảnh

Tiếng ngân đã bặt lòng đàn,
Hồn Kim thanh thoát trong ngàn liễu tơ.
Bếp hồng cao ngọn khói mơ,
Mùi rơm chiều thoảng bao giờ chưa quên
Ngựa dài gió dục đườg lên,
Mặt trời đỏ thẫm ngọn liềm đá trau.
Dáng Kiều thấp thoáng vườn rau,
Có con mèo mướp theo sau quện hoài.
Chiều vàng bướm cũng vàng bay,
Vờn trên rau cải vàng dài bông hương.
Hoàng hôn phủ tóc Mỵ Nương,
Hào quang trời ửng thêm hường má Xuân.



XXVII.Tìm Động Hoa Vàng

Gửi bàigửi bởi tranngoc » 14/03/2008 03:41:31 pm



XXVII.Tìm Động Hoa Vàng.


Bức thứ hai mươi bảy: 

(Bốn người lẫy Kiều, canh bánh chưng đêm 

nơi thôn Bạch Vân - Quê hương của Trạng Trình

Nguyễn Bỉnh Khiêm- Nhà Sư kể chuyện vui
chờ Xuân-Huyền thoại một bài thơ nơi chùa
Hương Tích, vì nghiệp luỵ thử thách đã nhập
vào đời Kiều- Đi suốt Đoạn trường, rồi thăng hoa
trong Việt tính dân tộc) 




-*-

Đêm khuya nơi chốn Bạch Vân,

Bốn người luộc bánh chưng Xuân chuyện trò.
Lửa bừng tí tách reo hò,
“Chú miêu” nằm cạnh co ro sưởi mình.
Một chàng mảnh khảnh thi nhân,
Một người áo vải nông dân hiền từ.(3210)
Một chiến sĩ, một thiền sư,
Vây quanh bếp lửa hồng như ráng chiều.
-oOo-
Thuốc lào nhả khói đăm chiêu,
Rung đùi sư bác lẫy Kiều ngâm nga.
“Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”
-oOo-
Thầy sao lắm vẻ cảm hoài ?
Chờ Xuân bạn kể một vài chuyện vui.
-oOo-
Thầy se điếu xuống cả cười,
Thì dư nước mắt khóc người đã sao ?(3220)
-oOo-
Rằng xưa có gã chiêm bao,
Ngâm thơ rỗng bụng tạt vào chùa Hương.
Ăn nhờ đôi bữa rau tương,
Một đêm – chuông rụng trăng vương gió ngàn.
Lòng chàng siêu thoát mênh mang,
Sáng lên tìm Động hoa Vàng chen mây.
-oOo-
Gối tay ngủ cỏ nằm say,
Tỉnh trông – thì lách lau dày lối ra.
Giật mình thấy một chùm hoa,
Nhành lan Bạch Ngọc trên toà tịch tâm. (3230)
Ý thơ nổi dậy khôn cầm,
Cảm lan dệt một trường ngâm xuất thần.

Hình ảnh
-oOo-
“Kiếp hoa trắng ngát hồng trần,
Nụ dài tưởng bút thi nhân đại đồng.
Dù nơi động núi sương phong,
Nhụy lan vẫn tỏa tấm lòng tinh anh.
Lá dài cong nhịp cầu xanh,
Vượt qua đoạn lệ trổ nhành hoa Tiên.
Thiên hương hé nụ cười hiền,
Biến thân qua vạn bút nghiên hoá Người”(3240)
Thần nhân ra khỏi cuộc đời,
Tim đông thành ngọc, vọng lời ngân xa.
-oOo-
Thần Thơ quyện với Hồn Hoa,
Vào nàng con gái nguyệt ngà họ Vương.
Cỏ cây quanh động chùa Hương,
Hoá thân làm nhịp gió sương đời Kiều.
Nào là Mã , Sở gian điêu,
Huyện quan Kim Trọng, đại triều Hồ Tôn.
Cũng vì diệu dụng càn khôn,
Cho bài thơ tỉnh mê hồn bay cao.(3250)
Cho thơ hoà với trăng sao,
Cho trăng sao hoá chiêm bao cõi Người.
Khí thiêng sông núi nên lời,
Cỏ cây giam kín một đời tinh anh.
-oOo-
Thần Nhân mới ứng thân thành,
Một chàng Từ Hải áo xanh bạc màu.
Giang hồ nhuốm bụi hàm râu,
Đón bài thơ nọ khỏi cầu đau thương.
Lại vào sư Bác Văn Chương,
Đem Kim Cương cắt tơ vương giấc vàng.(3260)
Cho Thơ hoà với mênh mang,
Cho mênh mang đọng hạt đàn Vô Thanh.
Đất dày nhập với trời xanh,
Đoạn trường xưa hoá trường thành lưng mây.
Áo thơ hồng quả tươi cây,
Tiếp thu lẽ sáng chan đầy Mạch linh.
Muôn loài mở cuộc hồi sinh,
Dựng lên khắp cõi bình minh Đại Hoà.
Kiều giờ là cỏ là hoa,
Đường gân mạch máu xương da cũng nàng. (3270)
Bài thơ thoát vận đoạn tràng,
Hoá thành hạt ngọc nghiêm trang Trời Người.
-oOo-
Nhà nông nghe chuyện mĩm cười,
Xắn tay vớt bánh Chưng ngời lá Vuông.
Mặt trời Tròn bánh Dầy hương,
“Tròn Vuông Trời Đất” - lên đường sáng soi.
Trẻ reo pháo nổ từng hồi,
Bạch Vân Am ngát lưng đồi trầm mai.
Buồng trong thoảng tiếng ru hoài,
“Xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài tan”(3280)
Mây bay trời dựng tàng vàng,
Gió cao tung cánh Phượng hoàng núi Đông.
Rừng xa lá cuốn bềnh bồng,
Dáng như Sư tử dựng lông vươn mình.
Đất trời lại thắm Minh Minh,
Dân gian mở hội thái bình bốn phương.
-oOo-
Thánh nhân quẫy gói lên đường,
Bước chân Tự Chỉnh (*) áo vương màu trời.
Dáng xa như úp chuông ngời,
Tiếng ngân đất trổ tuyệt vời trăm hoa.(3290)

Hình ảnh
-oOo-
Non Hồng núi Tản chim ca,
Sông Hà, sông Cửu la đà dòng xuôi.
Núi sông chiếu diện tinh khôi,
Ngọc lên mặt biển, vàng trôi mạch rừng.
Mừng người Trời Đất tưng bừng,
Ruộng Lam trâu kéo một vừng long lanh.



HẾT 



Chú thích : (*) Tự Chỉnh : Là tư tưởng trong câu Đại Đồng, Toàn Triển, Điền Hoà, Hợp Hoá, Điều Thân, Tịnh Ý, Hoàn Nguyên trong lý luận PHATHATA (hay Pháp Thân Tâm)



ĐOẠN TRƯỜNG VÔ THANH(Thay lời kết)

Gửi bàigửi bởi tranngoc » 14/03/2008 04:44:00 pm
THAY LỜI KẾT 
(Nguyễn Du kết Kiều bằng hai câu thơ giản dị,
khiêm tốn cho một tác phẩm “bất hủ” của mình. 
Còn Đoạn Trường Vô Thanh ? Xin mạn phép tác giả 
Phạm Thiên Thư tiếp theo mấy dòng “Kết” riêng cho
"tác phẩm ĐTVT Online" này vậy)
 

Hình ảnh 

Là Quán Tự Tại nhi sanh,
"Tân Thanh" xưa bỗng hiển minh lạ dường.
Hư không thị hiện vô thường,
Vô Thanh là tiếng Đoạn Trường...tự tâm.
Trăm năm
...trăm năm

......trăm năm,
Biết còn ai nhỏ lệ thầm khóc ta ?
Mấy lời tiếp giọng ngâm nga,
Lưu truyền hậu thế gọi là...giải khuây.
“Tẻ vui cũng tại lòng này !”
 

-oOo-
 

Nguyễn Du đã viết Truyện Kiều thành một “Đoạn Trường Tân Thanh”, một tiếng kêu xé lòng từ câu chuyện đời buồn "đứt ruột" của nàng Vương Thuý Kiều qua “lời kể” của Thanh Tâm Tài Nhân. Cái “Đoạn Trường” của Nguyễn Du là một tiếng thét “hữu thanh” giữa chốn hồng trần...tiếng kêu than xé lòng từ những tột cùng khổ đau của cõi đời ô trọc như muốn "vạch trời mà kêu"...của những "Kiều nhi", những con người "bị áp bức nào đấy" trong tận đáy của xã hội.

Còn Phạm Thiên Thư viết “Đoạn Trường Vô Thanh” từ cái...vô thanh, từ cái “hư không đặt để nên lời” như một “cảm tác thông linh” của hai con người cách nhau hằng thế kỷ, không phải là "chuyện viễn tưởng", không phải là "chuyện hư cấu" mà là một chuyện...tưởng tượng từ một chuyện tưởng tượng! Nếu nói “Đoạn Trường Tân Thanh” là một “phóng tác từ Kim Vân Kiều Truyện” của TTTN thì với Phạm Thiên Thư, “Đoạn Trường Vô Thanh” là một “sáng tác mới” hoàn toàn, không có cái gì để ..."phóng" cả ! Có chăng là ...những cái tên và một nỗi lòng. Chính vậy mà từ không gian, thời gian, nhân vật...ĐTVT dường như có một “hướng phiêu diêu mới” mà những ai đã “gối đầu, nằm lòng ĐTTT” có thể nhận ra ngay sau lần đọc đầu tiên với ĐTVT.

Thật vậy, từ nhân vật chính Thúy Kiều...cho đến những nhân vật khác Từ Hải, Kim Trọng...ta đều nhận ra có một cái gì đó rất khác. Nói là "Hậu Truyện Kiều" nhưng hình như trong ĐTVT chỉ có...những cái tên "chắp nhặt" lại từ Truyện Kiều "nguyên thỉ". Và cái"sáng tạo độc đáo" trong đứa con tinh thần của PTT có lẻ chính là cái không gian và thời gian của "Truyện Kiều - PTT". Nó không phải là "Gia Tỉnh Triều Minh" xa xôi nào đó trong "Truyện Kiều - ND" mà chính là ...Việt Nam ! Ngay cả "Từ Hải cũng là người Việt Nam chính gốc!". Nếu như trong tác phẩm của Nguyễn Du Thúy Kiều là một “con người” với đầy đủ những tố chất cơ bản nhất. Cho dù là "gái lầu xanh" nhưng ngay cả khi tái hợp Kim Trọng thì vẫn là một bản ngã, một nhân cách, một cái tôi nào đó... Thì với ĐTVT, Thuý Kiều như là một...người của cõi trên. Kiều chưa “lên tiên” nhưng từ trong cái thanh thoát của những nghĩ suy, Kiều đã là như “một tiên nhân mang xác phàm” với đầy đủ cốt cách của một con người “không còn là của trần tục thế gian”. Nếu như Từ Hải của Nguyễn Du là một “anh hùng da ngựa bọc thây” với cái phong cách võ biền của một "dũng sĩ sất phu" thì vong linh Từ Hải lãng đãng trong Đoạn Trường Vô Thanh lại khiến ta liên tưởng đến thiên Anh hùng ca “Bhagavad Gita” của đất nước Ấn Độ với những con người “xem cái chết như một cõi sống” của một “Anh hùng ” thánh thiện... Nếu như Kim Trọng của Nguyễn Du cố sống cố chết cho một tình yêu mà đối tượng cứ khăng khăng rằng “yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau” và cũng kiên quyết “đem tình cầm sắc đổi ra cầm kỳ”..Sống nương nhau như một cái bóng, vấn vương, nuôi nấng một kỷ niệm ấu thời, thì Kim Trọng của Phạm Thiên Thư là một triết nhân xem mọi lẽ đời là vô thường, vô tướng, vô ngã...Nếu như Nguyễn Du cho Kiều “dứt tình” với Từ Hải bằng một cuộc chia tay tang tóc mà chính Kiều phải nức nở thốt lên “giết chồng rồi lại lấy chồng. Mặt nào mà lại đứng trong cõi đời”. Nếu như trong ĐTTT, Nguyễn Đu đã "ép buộc Kiều" thốt ra câu "Chữ Trinh còn một chút này..." hòng muốn tỏ cho Kim Trọng "chút hương tàn" của tình yêu ban đầu... thì trong ĐTVT, Phạm Thiên Thư đã cho phép Kiều “sống cùng Kim nhưng trong lòng vẫn là Từ” và hình như PTT đã khẳng định “Kim Trọng mãi mãi không phải là... chồng của Kiều” mà đích thị Kiều là một “Từ Nương”... Thậm chí đến ngài "Khâm sai đặc chỉ" đầy gian hùng, "đạo đức giả" trong ĐTTT cũng "hoá thân" thành một "hiền nhân quân tử" sặc mùi đạo hạnh khi "đi tiếp" cuộc hành trình sang với Phạm Thiên Thư ...

Nhưng Đoạn Trường Vô Thanh vẫn là... “Vô Thanh” từ trong cái hư không mà ra và chẳng để làm gì cả... Không có tiếng kêu nào ở đây...cũng không có yêu ghét, hận thù. Cái cảm giác bàng bạc trong ĐTVT là “siêu thoát”, là cái cảm giác lâng lâng trong một cảnh giới vô thường. Nếu như ai đó từng có cái "ấn tượng" với ĐTTT là "bản cáo trạng dành cho chế độ phong kiến thối nát", là "tiếng nói bất khuất của những người bị áp bức đưới tận đáy xã hội"...và gì gì nữa thì Đoạn Trường Vô Thanh là một cái hậu bất ngờ ! Không thù oán, không tố cáo...không có gì cả... Là Vô Thanh, Vô Thường, Vô Cầu, Vô Ngã...

Ta viết bài này sau khi nhập những dòng thơ cuối cùng của “Vô Thanh” để đưa lên mạng, cũng là những dòng cảm khái đầu tiên của một “Kiều nhân”, sau khi đọc qua hết 3296 câu thơ. Nhưng không như với “Truyện Kiều”, ta hình như KHÔNG thấy cái cảm giác “thèm” ĐTVT đến mức “học thuộc từng câu, từng chữ”. KHÔNG có gì và cũng KHÔNG để làm gì cả...
 

“Là hư không đặt để thành...”
"Đoạn trường" là bóng - "Vô Thanh" là hình.
Rộn ràng "danh-sắc, sắc-danh"
Cho "lệ uất nghẹn" rơi thành Kim Cương.
Cho "Vô Thanh" hoá Vô thường !...


Kỉnh bút.
Trần Ngọc.



19.4- ĐOẠN TRƯỜNG VÔ THANH - (Tiep theo) (Câu 2499 -2880)


ĐOẠN TRƯỜNG VÔ THANH(Câu 2499 -2880)

Gửi bàigửi bởi tranngoc » 11/03/2008 08:46:55 am
XXII. Mây Thu Cuộn Vàng

Bức thứ hai mươi hai:

(Kiều từ giả cỏ hoa, họa thơ tiễn biệt,

lên đường về quê) 



Canh gà eo óc hương lân,

Đã nghe nhà dưới gia nhân dậy rồi.(2500)

Ngoài ao xốc gạo đồ xôi,

Tiếng con chó Quýt buông hồi sủa trăng.
Sương mờ ngõ trúc giăng giăng,
Lá Thu hiu hắt qua mành rung êm.
Nhành lan sương trĩu đầu thềm,
Vẻ như phờ phạc trắng đêm đợi ngày.
Song hồng phơn phớt trăng lay,
Kiều ra sân dạo – đóm bay nhạt dần.
Gạch vuông từng mảnh sao ngần,
Tóc nàng tưởng dấu phì vân lay mờ. (2510)
Bếp xa ngọn lửa vật vờ,
Dưới giàn bầu nậm, Quít chờ vẫy đuôi.
Côn trùng ri rỉ im hơi,
Cỏ cây chừng cũng run lời tiễn đưa.
Cố hương đằng đẵng gió mưa,
Bao năm xa cách ai nờ - còn khi.
Dặm về tưởng dặm từ ly,
Hoa sim tím chết ngày đi theo chồng.
Cánh chim Hát Núi ngoài đồng,
Tiếng ca bay vút từng không khói mù. (2520)
Cỗ xe gỗ liệm hồn thu,
Ngựa thiên lý xoãi gật gù gió bay.
Đưa tay đồi trắng ngàn mây,
Đón ta lau lách có gầy thu dung.
Cầu ao lợp bóng tàng sung,
Còn rơi trái đỏ vương cùng nỗi mong.
Núi Diầu xanh gợn đường cong,
Buồn lên hiên cỏ lại trông chiều về.
Bãi mồ biêng biếc tiểu khê,
Mùa xuân tìm hỏi đoá lê thủa nào.(2530)
Còn ai qua ngõ bưởi đào,
Dừng chân mà nhớ hoa nào ngẩn ngơ.
Còn chăng suối đợi non chờ,
Cồn vàng nổi gió, sông tơ cuộn hình.
Bao năm sưởi ấm lòng mình,
Ai xưa đốt đuốc ca tình - còn vang.
Đường trần bạc áo nữ lang,
Tiếng ca nâng bước lỡ làng, phân vân.
Làng quê đòi đoạn muôn phần,
Có đêm trở giấc mắt ngần ánh sương. (2540)
Mộng về hư ảo cố hương,
Mừng sao, muốn nuốt dặm trường cỏ non.
Lô nhô hoa trắng đồi son,
Chan dầy âm điệu lối mòn chim vui.
Nhưng rồi khi giấc mơ lùi,
Thêm ngao ngán dạ, thêm bùi ngùi châu.
Đành thôi bọt nước qua cầu,
Tương lai còn lạichút màu thiên thanh.
Tấm lòng bát ngát mây xanh,
Mà đời giam héo một cành thu ba.(2550)

Hình ảnh
Kiều nhìn trăng khuất rừng xa,
Còn loang bụi phấn ngà ngà khói sông.
Tiếng chim thảnh thót giàm đông,
Mừng vui gọi áng mây bồng bềnh tơ.
Bướm bay từ cội sương mờ,
Cánh tung nắng mới qua bờ thảo phương.
Nụ hoa thức giấc bên tường,
Vô tình để ửng má hường nắng trong.
Đèo xa phơn phớt cỏ hồng,
Cành đa oằn một nét cong trữ tình. (2560)
Nhện giăng nội cỏ băng trinh,
Từng dây lưới ngọc in hình sao tan.
Xanh, Lam, Trắng, Tía, Đỏ, Vàng,
Long lanh làm đẹp mấy hàng hoa thu.
Người buồn lãng đãng sương mù,
Gió tai tải lạnh về ru né mày.
Đồi tùng mờ mịt sương bay,
Nàng thầm lặng hướng một ngày xa khơi.
Xin từ tạ hạt chuông lơi,
Tiếng ngân tự thể sáng ngời Văn Chương. (2570)

Ngậm ngùi khi sắp lên đường,
Đã nghe tiếng ngựa buộc cương rặng đào.
Chàng Kim thong thả đi vào,
Gío lay dãi mũ xanh xao lá quỳnh.
Mắt ai chôn một trời tình,
Bóng sương thấp thoáng đôi hình khói mây.
Ngẩn ngơ sỏi đá nhìn cây,
Nao nao gió lạnh liễu gầy hỏi nhau.
Hoa rơi hai kẻ cúi đầu,
Chia tay ai chẳng ưu sầu như ai. (2580)
Lao xao tiếng vọng hiên ngoài,
Nhác trông đã thấy ba người tìm qua.
Nguyện theo tay níu áo bà,
Vân xem ái ngại nét hoa phớt buồn.
Bà Vương nôn nóng lên đường,
Tưởng như muôn dặm bụi hường giục xe.
Thôi thì to nhỏ nhắn nhe,
Mỗi câu thêm lại buồng nghe ngậm ngùi.
Xe phu loáng thoáng đôi người,
Lên đem hành lý nàng dời lầu mai.(2590)
Kều vào sửa áo trâm cài,
Gió lan bạch ngọc vươn dài ngọn trông.
Cửa hờ, giường quạnh lầu không,
Ngoài sân Thu cúc trổ bông sớm vàng.
Mắt nhìn bốn hướng mênh mang,
Vuốt ve hoa cỏ lên đàng về quê.
Mây trôi từng cụm ven đê,
Người đi kẻ ở sầu tê lòng quí.
Có ai mai mốt buồn chi,
Lên lầu tựa ngó những khi nắng tà. (2600)
Một phương rầu rĩ cỏ hoa,
Một phương lau lách nhạt nhoà thu phong.
Một phương xoã tóc chiều hong,
Một phương nhớ mảnh trăng cong nét mày.
Hai phương gió dạn mưa dày,
Đường đi ngại những non mây mịt mù.
Rừng buồn rung trái sầu u,
Người buồn phủi hạt mưa thu bẽ bàng.




Hương nhi vội vã tìm sang,
Dâng lên đã nhác đôi hàng đề thư. (2610)
Hương rằng: “Có một nhà sư,
Sớm nay đã đến thưa : Từ chùa Văn.
Thư này gửi đến phu nhân,
Bây giờ chú hiện nghỉ chân nhà ngoài”.
Ngập ngừng nàng mở xem ngay,
Mười bài tiễn biệt nhủ ai đăng trình.
Mỗi bài là một bài Minh,
Nghĩa sâu mối Đạo, chữ linh tụ thần.
Đọc xong Kiều lặng phân vân,
Bâng khuâng vóc liễu – tần ngần mày hoa. (2620)
Mắt nàng trầm lắng thu ba,
Ý lên đỉnh núi, chữ nhoà lòng trang.
Tay tiên rạng ngọc tươi vàng,
Thảo bài Đường luật liên hoàn phiêu diêu.
Gói trong một giải lụa điều,
Tạ lòng tri kỷ ít nhiều vấn vương.
Cho đem thơ lại khách đường,
Hiên Tây ngơ ngác chùm hương gượng cười.

Hình ảnh

Tiễn đưa xoắn xuýt bao người,
Ba xe ngựa hướng chân trời xanh xanh. (2630)
Nẻo đi dằng dặc mây thành,
Bóng mây trĩu nặng mấy cành hắt heo.
Quan, Kim sóng ngựa đưa theo,
Chân non cát đỏ, lưng đèo sương bay.
Dùng dằng tay lại cầm tay,
Sầu Thu chan chứa giọt đầy giọt vơi.
Bánh lăn cọc cạch rả rời,
Ngựa say mây nhớ phương trời chảy đi.
Não nùng hai tiếng từ ly,
Buồn thưa thốt miệng, sầu chi chít lòng. (2640)
Qua khe ngó cá lòng tong,
Áo xanh ai đó in dòng suối xanh.
Nhớ nhà xe cuộn thêm nhanh,
Ải xa cổng đỏ mấy nhành hồng mai.
Dầu sông ai hát Nam ai,
Giọng cao nước chảy, giọng dài đò đưa.
Nỗi buồn ngàn vạn xa xưa,
Luồn theo mạch máu bây giờ chưa tan.
Tiếng ca ngơ ngác lau vàng,
Lồng trong khói sóng tràng giang rụng rời.(2650)
Chim bói cá biếc mây trời,
Ven sông đậu hóttrông vời nước mau.
Gió Thu san sát bông lau,
Giục người quẫy gánh hát câu ề à.
Bóng ai đã khuất cồn hoa,
Còn nghe gió thoảng tiếng ca ơ hờ.
Cỏ tranh ngoài nội bạc phơ,
Gió lay lay tưởng sóng vờ vật xuôi.
Tiễn theo mây đoạn bùi ngùi,
Bẻ hoa rượu nhớ, gượng vui lên đường. (2660)
Kim, Quan dưới liễu gò cương,
Cổ xe bánh đạp sỏi hường – tung bay.
Ngựa xuôi bờn dựng hí mây,
Bạn về hoa cũ giục hoài không đi.
Ngậm ngùi cu gáy từ ly,
Héo lòng ai có thương gì chim cu.
Con xe gỗ vượt dặm mù,
Mui cao chở những mây Thu cuộn vàng.
Kiều ngồi hướng mắt mơ màng,
Chí cao Từ Hải - thiên đàng phuơng Đông. (2670)
Vó câu vi vút non bồng,
Đàn xanh yên ngựa gươm hồng bóng trăg.
Hoa giờ còn đợi mưa giăng,
Cỏ cây nhớ cánh chim bằng đợi tươi.
Rừng Thu nhớ trận cả cười,
Cớ mây lá nhớ, vọng trời Đại Nam.
Mắt xanh đây cửa khải hoàn,
Chờ trông chỉ thấy gío quan san về.
Dường trong hiu hắt sương kia,
Như đâu thấp thoáng nhành bia sa trường.(2680)
Sóng dài lấp lánh làn gươm,
Đồi phơi áo trận phong sương đổi màu.
Khí thiêng lau lách rầu rầu,
Người đồn: Gươm giáo đêm thâu rộn ràng.
Lên no trẻ hái hoa vàng,
Còn reo nhặt được kiếm han rỉ cùn.
Đêm về bần bật kiếm run,
Mồ hôi thép toát hiện hồn ba quân.
Rừng vương cốt ngựa trắng ngần,
Kiếp người mây nổi một lần qua mau.(2690)
Nghìn xưa lưu lại nghìn sau,
Còn chăng rêu mộ trơ màu vàng xanh.
Lại sông loang máu anh hùng,
Trăm năm đáy nước kết thành ngọc trai.
Người đem giũa chiếc trâm cài,
Trăng lên thoảng tiếng thở dài ngọc xưa.
Dường trong ánh chớp tơ mưa,
Có hồn tử sĩ vất vơ chửa tàn.
Cõi đời chất ngất hờn oan,
Cuộc cờ bày xoá mấy bàn đua tranh.(2700)
Ném ra xe ngưạ tung hoành,
Thu về còn lại một vành trăng suông.
Bể dâu thay đổi bao tuồng,
Cái chi còn lại trong luồng gió xoay.
Bàn tay tiếp nối bàn tay,
Trả vay vay trả đoạ đày mãi nhau.
Một bầy tâm bệnh khổ đau,
Nghìn xưa vạch sẵn nghìn sau – một đàng.
Nghìn dòng máu lệ mênh mang,
Biết bao giờ mới chỉnh trang nguồn đời.(2710)
Núi sông rực rỡ con người,
Mở trang sử mới nơi nơi đẹp lành.
Cõi lòng bát ngát mây xanh,
Đổi xoay đương thức kết thành thiện duyên.
Giữa đời Tự Chỉnh như nhiên,
Trăm năm thoát mối đảo điên buộc mình.
Cho bao sỏi đá hồi sinh,
Bốn phương chung hưởng thái bình thịnh an.

Cỏ cây thấp thoáng qua màn,
Dập dồn vó ngựa gõ khan mặt đường.(2720)
Non xa tím ngắt mây vương,
Sông xanh trời nhuộm, đồi hường nắng hong.
Tưởng ngày hoa lạc long đong,
Niềm quê sợ cả nỗi mong vụng thầm.
Sợ nhìn vóc núi trầm ngâm,
Tưởng đâu thành quách giam cầm chim bay.
Sợ đêm tơ tưởng bóng mây,
Oán sao trời đất đoạ đày mình riêng.
Sợ trông hoa lả trăng nghiêng,
Thêm đau đớn phận – người chuyên tay người.(2730)
Ngại trông xuân trổ màu tươi.
Bẽ bàng thêm nữa buồn ơi là buồn.
Ngại chi non đổ suối tuôn,
Nước đi có biết cành hương phai tàn.
Ngại trông xe cuộn bụi đàng,
Hồn quê theo dặm mây vàng giục xuôi.
Dối mình đùa cợt làm vui,
Lại nghe tẻ ngắt nụ cười tái tê.
Dám monh chi nữa ngày về,
Chân mây cỏ áy não nề một phương. (2740)
Bây giờ rong ruổi mây vương,
Mây bay tưởng những dặm trường thăng hoa.
Ngỡ cây đa đợi quê nhà,
Ai lên quán Dốc hát mà trách ai.
Đá non hỏi nước sông dài,
Hoa trôi một thủa u hoài còn riêng.
Đèn còn sợi khó xanh thiêng,
Cho bông tầm gửi láng giềng còn leo.
Còn cây trúc đợi trăng treo,
Hỏi hoa vương giả có neo cánh tình.(2750)
Từ hoa đổ chuyến đăng trình,
Người qua ngỏ nhỏ chạnh tình khóc hoa.
Lên nương có hái bông trà,
Ngó mây tím chết ngỡ tà áo bay.
Trở về chếnh choáng men say,
Chờ hoa bưởi rụng đưa tay đỡ buồn.
Giờ ta về lại cô thôn,
Liệu con nhện cũ neo hồn sầu chăng.
Cho dù trúc đã đâm năng,
Miếng trầu vôi đỏ dùng dằng trao thơ..(2760)
Đêm đem cung nguyệt lay mờ,
Tưởng đâu con sáo bây giờ qua sông.
Xin từ tạ những ngùi trông,
Cho tôi quên nhé những bồng bềnh xa.
Tạ từ khe quỉ đường ma,
Cho tôi dựng lại mái nhà nhân gian.
Xin cùng cỏ biếc quá quan,
Một đường nhân ái rẽ làn mây bay.
Trong xe nàng nhẹ quơ tay,
Ngoài đồng lúa đã dâng đầy lúa hương. (2770)




XXIII. Bao Năm Tơ Tưởng

Gửi bàigửi bởi tranngoc » 11/03/2008 03:37:40 pm



XXIII. Bao Năm Tơ Tưởng.


Bức thứ hai mươi ba: 

(Kiều nhìn qua màu xanh vách núi cố huơng 

mới ngộ ra chính hoàn cảnh thiên nhiên và 

thân thuộc ban đầu đã tạo nên tâm thức nàng
-chỉ có quê hương mới mang lại thứ chân
hạnh phúc – viên Ngọc Báu trong mình
mà mãi lãng quên) 



Kiều qua muôn dặm bụi hường,

Thôn mây vần vũ, quán sương rạc rời.
Vượt non xe kiếm mặt trời,
Sang sông ngựa hí trông vời nước xanh.
Xe theo vó đổ mưa nhanh,
Người qua đồn cũ ngó thành rêu trơ.
Núi non thấp thoáng sương mờ,
Rõ ràng đâu phải giấc mơ đêm tàn.
Chao ơi suối tía đồi lam,
Bao năm tơ tưởng lòng tam tứ sầu.(2780)

-oOo-

Cỏ cây xưa vẫn xanh màu,
Xanh ơi ! Một cõi nhiệm mầu trong ta.
Xanh từ mấy chục năm qua,
Dạy người khôn lớn yêu nhà yêu quê.
Ta đi – xanh gọi ta về,
Nôi ru trời đất bốn bề trăng sao.
Mặt trời luyện chí người cao,
Núi non giục vượt ba đào đấu tranh.
Cỏ hoa dậy đức hiền lành,
Chim muông dục bước xuân hành tiến đi. (2790)
Mây bay nhủ lẽ từ qui,
Mãi quên một cõi lưu ly toả ngời.
Mùa Xuân dậy lý đất trời,
Mùa Thu dậy tiếng ru hời gió đưa.
Mùa Đông để trán ưu tư,
Hạ Vàng để mắt trầm từ thâm sâu.
Dậy hoà bốn biển năm châu,
Dậy khai địa ngục, dậy xâu mộng vàng.
Bản di chúc toả hào quang,
Mẹ, Cha thầm nhủ con đàng – vượt lên.(2800)
Lòng chung bát ngát cõi Tiên,
Trí ngời quẫy khúc Rồng thiêng vẫy vùng.
Giờ đây tâm trí thao phùng,
Tái sinh giữa tấm lòng chung sơn hà.
Xanh xanh đất mẹ hiền hoà,
Giang tay ôm đứa con xa bấy ngày.
Hình ảnh

-oOo-

Nàng còn mặc khải ngất ngây,
Non cao phục xuống một bầy voi xanh.
Dây diều đây dựng quách thành,
Non ơi non vẫn yên lành đó non. (2810)
Ô kìa Ngũ Nhạc chon von (*)
Mai Sưu vươn ngọn hao mòn bạc sương.
Phượng Hoàng núi nghỉ cánh hương,
Bao năm theo gió tha phuơng gọi người.
Triền này, Cổ Vịt rừng tươi,
Triền kia, Đá trắng là nơi trại mình.
Nương khoai gốc sắn là tình,
Cỏ hoa mây suối tạc hình vóc ai.
Nhìn ra tre trúc vươn dài,
Cầu Giòng thôn, khói bay vài sợi lam.(2820)
Suối giăng lấp lánh tơ ngàn,
Đồi kia gởi nấm mộ tàn hoa leo.
Xe qua đàn trẻ ùa theo,
Dắt nhau lả tả hò reo rộn ràng.
Nắng chiều rũ xuống mênh mang.
Líu lo sáo đậu trên tàng Đá Đôi.
Khe sâu nước vọng bồi hồi,
Mái rêu Nghè Nấm lợp trời nhung xanh.
Đường viền sỏi đá quanh quanh,
Chốn xưa đã hiện nét tranh lạc hà (2830)

-oOo-

Ngực mừng tưởng vỡ tan ra,
Nàng truyền xuống ngựa thướt tha bộ về.
Bước chân nẫu nhớ mùi quê,
Đất truyền nhựa mạch mừng tê tái người.
Lòng rạo rực hé môi cười,
Mở ra bát ngát hơn mười Kinh Thơ.
Cỏ cây tươi mắt xanh chờ,
Núi non chín ửng phất phơ ráng hường.
Ngồi trên cội đá ven đường,
Áo Kiều lay nhạt tà dương nhiệm mầu. (2840)
Nhìn trời ngâm khẻ đôi câu,
Ý thơ theo bướm quanh đầu vờn bay.
Cỏ cây ngan ngát hương say,
Đồi Thu chợt cánh chim bay hoạ đờn.
Tiếc đời hoài mấy năm hơn,
Tìm nơi bọt nổi mây vờn hồi sinh.
Nhãng quên Báu Ngọc trong mình,
Là quê hương kết muôn hình hào quang.
Bày chi địa ngục thiên đàng,
Bên trong sự sống mênh mang tràn đầy. (2850)
Bây giờ mới hiểu lời Thầy,
“Cỏ hoa đâu chẳng hiện bày chân ngôn.
Con người cứ mãi xa nguồn,
Đày mình giữa những chán chường quẩn quanh.
Cho người tu luyện rừng xanh,
Thầy xin cày cuốc tựu thành tự nhiên.
Mặc ai tìm kiếm Tây thiên,
Riêng ta biến cái não phiền thành hoa.
Hoài công sớm tối ê a,
Chi bằng hái cúc ươm trà ngẫm thu.(2860)
Tu mà chẳng biết mình tu,
Nhập cùng mối Đạo cho dù rong chơi.
Thân tự tại giữa đổi dời,
Một lòng vô bệnh – trí ngời lên cao.
Ngâm thơ giữa cõi trần lao,
Dú cho vọng niệm khác nào Như Lai.
Một khi minh triết xa người,
Còn chăng giả tướng giữa nơi hồng trần.
Phân chia này nọ, ngã nhân,
Càng tìm càng vạt gót chân lạc nguồn”.(2870)
Bao năm trí bệnh đoạn trường,
Truân chuyên đã trải, đau thương đã rồi.
Dòng dòng nước mắt nổi trôi,
Bây giờ mới mở chân trời uyên ngôn.
Hình ảnh

-oOo-

Tóc nàng dài sợi hoàng hôn,
Cò bay dằng dặc cô thôn gọi chiều.
Một vùng mây núi đăm chiêu,
Dưới chân giun dế nở đều trường ca.
Kiều lên trang trại quê nhà,
Mảnh trăng theo hiện lên tà áo lơi. (2880)








Ghi chú của tác giả(*) Những địa danh và huyền tíchtrong bài là có thật, thuộc địa phận Chi Ngãi-Chí Linh-Hải Dương (nay thuộc tỉnh Hải Hưng) - quê hương của PTT

-Phụ lục: Tranh Thư pháp Truyện Kiều-Trần Ngọc